Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về hoa lợi, lợi tức, gọi: 1900.6162

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự năm 2015

2. Khái niệm hoa lợi, lợi tức

Hoa lợi, lợi tức là những sản vật (vật mới) được tạo ra từ sự phát triển tự nhiên có tính chất hữu cơ hoặc được hình thành từ hoạt động đầu tư, khai thác từ tài sản. Theo đó, chủ sở hữu, người sử dụng có quyền tự khai thác, sử dụng hoặc cho người khác khai thác công dụng của tài sản để hưởng lợi tức.

+ Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại. Ví dụ: Gia súc nhỏ do mẹ chúng đẻ ra.

+ Lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản. Ví dụ: Tiền lãi thu được từ việc cho vay tài sản.

3. So sánh hoa lợi và lợi tức

Căn cứ vào sự phát triển tự nhiên của tài sản và việc khai thác, sử dụng tài sản để có được những lợi ích vật chất nhất định, pháp luật quy định nhằm phân biệt hoa lợi với lợi tức.

– Trước hết, về hoa lợi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 109 Bộ luật dân sự năm 2015, thì hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại. Trong quan hệ xã hội, từ hoa lợi còn được gọi là “quả thực”. Vì vậy, hoa lợi hay quả thực của một tài sản (vật chủ) theo một quy luật sinh học tự nhiên và có định kỳ sẽ làm phát sinh một sản vật mới.

Những sự kiện phổ biến thường xuất hiện đối với vật nuôi, cây trồng. Trước đây, Bộ Dân luật Trung Kỳ quy định tại Điều 480, Dân luật Bắc Kỳ quy định tại Điều 466 quy định về hoa lợi. Theo hai bộ dân luật này, thì hoa lợi đều thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản phát sinh ra hoa lợi.

Hai Bộ luật này còn quy định về những chi phí để có được hoa lợi như công cày bừa, chăm sóc, giống má của người thứ ba chi ra để có được hoa lợi, thì được hưởng hoa lợi đó. Theo quy định tại Điều 224 Bộ luật dân sự năm 2015, về xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức: “Chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền đối với hoa lợi, lợi túc theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó.”

Theo quy định của pháp luật: Việc xác định hoa lợi thuộc quyền sở hữu của ai hay ai có quyền thụ hưởng phần hoa lợi từ tài sản, còn cần phải xác định theo những quy định của pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi.

Những quy định của Bộ luật dân sự về việc xác định quyền hưởng hoa lợi từ tài sản tại các Điều 231 (xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc); Điều 232 (xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc); Điều 236 (xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật); Điều 291 (hưởng hoa lợi, chịu thiệt hại về gia súc thuê khoán). Những điều luật đã viện dẫn, là căn cứ xác định hoa lợi thuộc về chủ thể và thời điểm phát sinh quyền của chủ thể hưởng hoa lợi trong những trường hợp cụ thể.

Lợi tức, căn cứ vào khoản 2 Điều 109 Bộ luật dân sự thì lợi tức là khoản thu được từ việc khai thác tài sản.

Việc khai thác tài sản là quyền của chủ sở hữu tài sản, quyền khai thác tài sản chủ sở hữu có thể chuyển giao cho người khác thông qua các giao dịch. Khai thác tài sản là khai thác những lợi ích vật chất của tài sản. Việc khai thác này thông qua các hành vi có ý thức và có mục đích của chủ thể.

Những hành vi khai thác tài sản phổ biến như đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh dưới các hình thức của các chủ thể thuộc các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế khác nhau nhằm mục đích thu lợi nhuận, khoản lợi nhuận thu được là lợi tức.

Chủ sở hữu của tài sản cho người khác vay tài sản trong một khoảng thời hạn nhất định và khoản vay có tính lãi suất, thì khoản lãi suất mà bên cho vay được hưởng trên tài sản cho vay, thời hạn vay và lãi suất cho vay thì khoản lãi suất mà bên cho vay thu được là lợi tức. Như vậy, lợi tức là lợi ích vật chất của chủ thể thu được thông qua việc khai thác hợp pháp tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.

Về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản, Điều 468 và Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định, khoản lãi suất này là lợi tức thu được từ việc cho vay tài sản của chủ sở hữu. Khoản lãi suất được xác định tại Điều 468:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác… Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.

Và khoản 2 Điều 468 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.

Khai thác tài sản để hưởng lợi tức phải tuân theo pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Nếu việc khai thác tài sản vi phạm những điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội thì hành vi khai thác tài sản là hành vi bất hợp pháp. Những hành vi khai thác tài sản bất hợp pháp là hành vi cho vay nặng lãi, tham gia chơi số đề, đánh bạc, mua bán chất ma túy, khai thác tài sản để làm nơi đánh bạc, chứa chấp những người hành nghề mại dâm, môi giới gái mại dâm…

4. Quyền sở hữu hoa lợi, lợi tức từ tài sản gốc

Căn cứ xác lập quyền sở hữu hoa lợi, lợi tức được quy định tại Điều 224 Bộ luật dân sự 2015 cụ thể như sau:“Chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó”.

Theo đó, tại quy định này người xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức gồm: chủ sở hữu và người sử dụng tài sản. Tùy theo sự thỏa thuận của các bên để xác lập quyền sở hữu hoặc dựa theo quy định của pháp luật.

5. Quyền sở hữu hoa lợi, lợi tức trong đặt cọc

Ví dụ: Anh A thỏa thuận bán cho anh B một con trâu với giá 35 triệu đồng. Anh B đã đặt cọc trước 15 triệu và hẹn 10 ngày nữa đến dắt trâu về đồng thời thanh toán số tiền còn lại cho anh A. Đúng hẹn, anh B đến thanh toán và dắt trâu về nhưng trước đó cách 4 ngày con trâu anh mua đẻ ra 01 con trâu con. Vậy con trâu con này sẽ thuộc quyền sở hữu của ai?

Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự 2015 thì “Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng”. Theo đó, đặt cọc chỉ là biện pháp đảm bảo trong hợp đồng mua bán. Vì vậy, trong thời gian anh B đặt cọc tiền con trâu vẫn thuộc quyền sở hữu của anh A.

Quyền sở hữu chỉ được chuyển giao khi khi anh B đến nhận trâu và hoàn tất thanh toán, khi đó quyền sở hữu tài sản của anh A mới chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của anh B (Điều 238 Bộ luật dân sự 2015). Do đó, trong thời gian con trâu đẻ con nghé thì quyền sở hữu con nghé vẫn thuộc về anh A.

6. Quyền sở hữu hoa lợi, lợi tức trong cầm cố

Theo quy định tại Điều 316 Bộ luật dân sự 2015 quy định về trả lại tài sản cầm cố đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản cầm cố thì “Hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản cầm cố cũng được trả lại cho bên cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Bản chất của việc cầm cố tài sản là chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình (bên cầm cố) cho người khác nắm giữ (bên nhận cầm cố) mà tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố. Vì vậy, nếu các bên không có thỏa thuận nào khác thì phần hoa lợi, lợi tức sinh ra trong thời gian của hoạt động cầm cố vẫn thuộc về bên cầm cố.

Ví dụ: Ông X cho ông Y vay 20 triệu đồng trong thời hạn 01 tháng và yêu cầu ông Y cầm cố 01 con bò. Ông Y sau đó đã dắt 01 con bò cái sắp đẻ qua cho ông X. Trước 02 ngày kết thúc thời hạn vay thì con bò đẻ ra con bê. Như vậy, giữa ông X và ông Y ngoài hợp đồng vay tiền còn có hợp đồng cầm cố tài sản để đảm bảo cho việc trả nợ và việc giữ bò của ông Y không đồng nghĩa ông X là chủ sở hữu mà quyền sở hữu bò vẫn thuộc về ông Y, khi bò sinh ra con bê thì con bê được xác định là hoa lợi. Khi đến thời hạn chấm dứt hợp đồng vay (ông Y đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ) thì ông X phải trả lại toàn bộ tài sản mà ông Y đã cầm cố bao gồm cả con bò và con bê nếu ông X và ông Y không có thỏa thuận khác.

Như vậy, hoa lợi, lợi tức đều là tài sản phát sinh từ tài sản đang có. Tuy nhiên hoa lợi là sản vật tự nhiên mang tính hữu cơ, còn lợi tức là khoản lợi được tính ra bằng tiền. Chủ sở hữu và người sử dụng tài sản có quyền đối với hoa lợi, lợi tức tùy theo sự thỏa thuận của các bên hoặc dựa theo quy định của pháp luật.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê