NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Thành công của Tiến sỹ Reddy ở Ấn Độ

Tập toàn của Giáo sư K. Anji Reddy đã phát triển nhanh chóng để trở thành một công ty dược phẩm quốc tế, cung cấp các loại dược phẩm có chất lượng cao và hiệu quả về chi phí cho thị trường toàn cầu. Cơ sở nghiên cứu của Tiến sỹ Reddy (DRF) được thành lạp vào năm 1993 với mục đích tìm ra những phương pháp chữa bệnh mới. Từ năm 1994, DRF đã khám phá và phát triển một loạt hoá chất mới trong nhiều lĩnh vực. Ba trong số chất đó đã được mô tả chính xác và hai đã được li-xăng cho một công ty dược phẩm của Đan Mạch là Novo Nordisk, theo một thỏa thuận mang tính bước ngoặt mang lại cho DRF vinh dự là công ty đầu tiên của Ấn Độ li-xăng các khám phá của mình cho một công ty đa quốc gia.

Thỏa thuận này trao cho Novo Nordisk một li-xăng độc quyền có hiệu lực trên toàn thế giới (trừ Ấn Độ) để phát triển và bán những dược phẩm dựa trên các hợp chất mà DRF tìm ra và được cấp bằng độc quyền sáng chế, đổi lại DRF nhận được những khoản tiền trà trươc rất lớn và những khoản tiền thù lao. Thỏa thuận này đề cập tới những hợp chất liên quan đến điều trị bệnh tiểu đường, bệnh béo phì và chứng loạn li-pit. Trong số các hợp chất này có DRF-2725, một phân tử chống tiểu đường hiện đang trong quá trình thử nghiệm lâm sàng và vì nó DRF đã nhận được khoản tiền quan trọng 8 triệu USD từ Novo. Thỏa thuận với Novo Nordisk có ý nghĩa quan trọng vì ước tính các chi phí cho thử nghiệm lâm sàng chiếm đến 70% chi phí để đưa một loại thuốc mới ra thị trường mà chưa có gì đảm b thành công chắc chắn. DRF cũng có thể được lợi từ khả năng đưa thuốc ra thị trường quốc tế của Novo Nordisk, nhờ đó cho phép DRF mở rộng thị trường toàn cầu của mình. Novo Nordisk cũng chắc chán được lợi từ việc có thể tiếp cận các hợp chất mới đầy triển vọng theo cách có hiệu quả cả về thời gian và chi phí, vì việc nghiên cứu ban đầu cần thiết để tìm ra một phân tử mới đã được hoàn tất. Vì các lý do này, có nhiều khả năng những thỏa thuận như vậy sẽ chiếm lĩnh vị trí trung tâm trong việc phát triển và đưa vào thương mại những phân tử mới do công ty ở các nước đang phát triển tìm ra.

DRF gán phần lớn thành công của mình với sự bảo hộ bằng độc quyền sáng chế. Tiến sỹ Reddy có niềm tin vững chắc rằng thành công về mặt kinh tế của các công ty và các nước có thể đo được bằng số lượng đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế. Như việc bảo hộ các kết quả đổi mới của mình thông qua bằng độc quyền sáng chế, DRF có khả năng bán và li-xăng các loại thuốc mới của mình trên khắp thế giới. Một cơ chế bảo hộ mạnh đối với bạng độc quyền sáng chế cũng tạo điều kiện cho những nỗ lực đổi mới tiếp theo của DRF để phát triển những sản phẩm và quy trình có tính đổi mới. DRF đã nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế ở nhiều nước cho tất cả các sáng che của mình, bao gồm 31 đơn về sản phẩm ở Hoa Kỳ, trong đó 17 đơn đã được cấp bằng độc quyền sáng chế .110 đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế cho Sản phẩm và quy trình cũng đã được nộp ở Ấn Độ, Vì bảo hộ bằng độc quyền sáng chế là trọng tâm trong các hoạt động của mình, DRF đã thành lập một nhóm quản lý SHTT nội bộ để theo dõi tất cả các đơn yêu cầu được cấp bằng độc quyền sáng chế quốc tế và các vấn đề liên quan đến chiến lược bằng độc quyền sáng chế .

2. R&D trong lĩnh vực dược phẩm được cải thiện nhờ những liên doanh dựa trên sở hữu trí tuệ toàn cầu:

Tính chất toàn cầu của hoạt động nghiên cứu dược phẩm và công nghệ sinh học đã dẫn đến việc tạo lập quan hệ đối tác giữa các công ty trên toàn thế giới. Đối với các hãng, việc làm ngày càng trở nên phổ biến hơn là hoạt động R&D được thực hiện thông qua liên doanh và thông qua nhiều hình thức cộng tác nghiên cứu khác. Nhu cầu chia sẻ chi phí R&D đang leo thang là một trong các lý do quan trọng nhất của trào lưu sáp nhập và hợp nhất quốc tế gần đây trong ngành công nghiệp dược phẩm, ưóc tính đầu tư cho R&D của ngành công nghiệp dược phẩm toàn cầu đã tăng từ 39 tỷ USD năm 1998 lên 43 tỷ USD năm 1999, thêm vào đó là 10 tỷ USD do các công ty công nghệ sinh học đóng góp. Mỗi năm, Viện nghiên cứu Y tế quốc gia Hoa Kỳ tài trợ 17 tỷ USD cho nghiên cứu. Chi tiêu cho R&D ở Hoa Kỳ đang tăng nhanh hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Ước tính khoản chi này đã tăng 17%, lên tới 24 tỷ USD năm 1999.

3. Biobrás

Biobrás được thành lập dưới hình thức một phòng thí nghiệm nhỏ, độc lập trong Trường đại học Liên bang Minas Gerais, Bra-xin. Biobrás đã bắt đầu hoạt động sản xuất en-zim theo một thoả thuận li-xăng với New England Enzyme Center có trụ sở tại Hoa Kỳ. Năm 1977, với sự trợ giúp của Bộ Y tế Bra-xin, Biorás đã đàm phán một hợp đồng liên doanh với các chủ bằng độc quyền sáng chế và công ty dược phẩm đa quốc gia Eli Lilly để sản xuất insulin động vật và đưa sản phẩm này vào thương mại ở Bra-xin. Eli Lilly đã nhận được 45% quyền sở hữu Biobrás vọ đã chuyển giao công nghệ của mình cho công ty dược phẩm định hưởng trong nghiên cứu nói trên của Bra-xin. Trong khuôn khổ một phần của thỏa thuận hợp tác, các nhân viên của Biobrás đã được Eli Lilly đào tạo về nhiều khía cạnh của hoạt động R&D cũng như về quán lý và marketing. Vào thời điểm thỏa thuận với Eli Lilly kết thúc sau năm sau đó, Biobrás đã trở thành một nhà sản xuất insulin quan trọng có sử dụng công nghệ hiện đại. Thị trường insulin của Biobrás đã cho thấy tiềm năng rất lớn và doanh nghiệp Bra-xin này đã sớm bắt đầu xuất khẩu sản phẩm chính của mình.

Trong khi đó, Biobrás cũng tham gia hoạt động nghiên cứu, dẫn đến một bước đột phá quan trọng trong những năm vừa qua. Biobrás hiện nay đã trở thành công ty dược phẩm đứng thứ tư - và là công ty duy nhất không phải công ty đa quốc gia - có năng lực và công nghệ để sán xuất insulin tái hợp dùng cho con người. Công nghệ này đa được Biobrás hợp tác với Trường đại học Brasilia phát triển và sau đó đã được cấp bằng độc quyền sáng chế ở Bra-xin, Ca-na-đa, châu Âu và Hoa Kỳ. Việc được cấp bằng độc quyền sáng chế choinsulin tái hợp dùng cho con người đánh dấu một bước ngoặt đối với Biobrás. Bởi vì lượng bán ra vẫn gần như giữ nguyên trong những năm gần đây, giá trị co phần của Biobrás đã tăng 6 lần trong 5 năm. Hoàn toàn có thể giả định rằng tài sản thuộc SHTT của Biobrás (đặc biệt là bằng độc quyền sáng chế của họ đối với insulin tái hợp dùng cho con người) đã được các thị trường tài chính nhìn nhận như là nền móng của sự tăng trưởng tương lai.

Thành công của Biobrás phán lớn dựa vào các thỏa thuận li-xăng về bằng độc quyền sáng chế với các công ty dược phẩm lớn và dựa vào những nỗ lực tiếp theo đó trong xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ cũng như tăng cường nguồn nhân lực của mình để có đủ năng lực tạo ra công nghệ tiên phong của chính mình.

Những nhà nghiên cứu của các nước đang phát triển còn thiếu vốn và nguồn lực đang ngày càng quan tâm đến khả năng gia nhập liên doanh R&D với các tổ chức nghiên cứu và công ty đã có chỗ đứng vững chắc để nâng cao năng lực nghiên cứu của họ . Lĩnh vực bệnh nhiệt đới và những bệnh phổ biến khác ở thế giới đang phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì việc nghiên cứu nhằm tìm ra các liệu pháp điều trị những căn bệnh này hiện nay chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng đầu tư cho hoạt động R&D trên toàn cầu ước tính rằng mặc dù có tới trên 56 tỷ USD được chi cho nghiên cứu về y tế mỗi năm nhưng chỉ có dưói 10% trong số này được dành cho việc nghiên cứu các cần bệnh gây đau khổ cho 90% dân số thế giới. Trong khoảng thời gian từ năm 1975 đến năm 1997, 1.223 hợp chất mới đã được đưa ra thị trường, nhưng chỉ có 11 hợp chất trong số này nhằm vào các bệnh nhiệt đới.

Chi phí cao cho việc phát triển các dược phẩm mới và triển vọng không thỏa đáng về lợi nhuận đã khiến nhiều công ty đa quốc gia rút lại các khoản đầu tư cho R&D trong lĩnh vực này. Do đó, nhiều nước đang phát triển đang xem xét việc phát triển những liệu pháp điều trị các căn bệnh này, một số liệu pháp trong đó có thể dựa vào những loại thuốc bán địa hoặc truyền thống, đồng thời các nước đó cũng huy động sự tham gia của khu vực tư nhân. Để thực hiện việc này, sự đảm bảo chế độ bảo hộ bằng độc quyền sáng chế là rất quan trọng, vì hai lý do. Lý do thứ nhất là không một tổ chức thương mại nào sđn sảng chấp nhận sự rủi ro gắn với các khoản đầu tư cần thiết cho R&D nếu không có sự bảo hộ bằng độc quyền sáng chế. Lý do thứ hai là các nước đang phát triển tham gia liên doanh chắc sẽ sở hữu độc lập hoặc sở hữu chung những sáng chế này sinh từ liên doanh đó và cần đạt được sự bảo hộ theo bằng độc quyền sáng chế trên thị trường của mình và có thể cả ở thị trường nước ngoài. Không có sự bảo hộ bằng độc quyền sáng chế thì nước đang phát triển tham gia vào một liên doanh quốc tế có thể tạo ra những sáng chế quan trọng nhưng lại không thể phát triển chúng thành tài sản thuộc SHTT để có thể sử dụng trong giao dịch li-xăng, mang lại lợi nhuận tài chính và nhờ đó đầu tư tiếp cho R&D.

4. Công nghệ sinh học định dạng lại nền khoa học ở Singgapo

4.1 Các nghiên cứu

Con cua hình móng ngựa là một hoá thạch sống. Nó đã sống sót qua 400 triệu năm và có thể được tìm thấy tại một số vùng nước tới. Sự sống sót này phụ thuộc vào một loại kháng độc tố mạnh có trong máu của nó có tác dụng bảo vệ nó trước những vi khuẩn có hại. Từ những năm 1950, các công ty dược phẩm đã sử dụng một hợp chất được chiết xuất từ máu của loài cua này để kiểm tra sự tinh khiết của các loại thuốc, ống tiêm, thực phẩm và các mẫu xét nghiêm lâm sàng.

Ngày nay, sản phẩm này được sử dụng rộng rãi, nhưng loài cua này đang có nguy cơ tuyệt chủng. Thông qua nghiên cứu gen, các nhà sinh vật học tại Trường đại học quốc gia Sing-ga-po đã nhân bản vô tính loại enzim gây phản ứng cục nghẽn, vì hợp chất được tạo ra theo con đường di truyền này tốt hơn nhiều so với hợp chất tự nhiên. Một số bằng độc quyền sáng chế đã được cấp ở Hoa Kỳ và Sing-ga-po. Hợp chất này đã được cấp li-xăng trong đầu năm nay cho một công ty công nghệ sinh học của Hoa Kỳ. Bên cạnh đóng góp cho việc bảó vệ môi trường toàn cầu, đây còn là mọt ví dụ minh chứng cho việc các nhà khoa học ở các nước đang phát triển được hưởng lợi từ các cơ hội nghiên cứu về công nghệ sinh học.

4.2 Sự đầu tư của nhà nước vào công nghệ sinh học:

Chính phủ Sing-ga-po đã đầu tư mạnh cho việc phát triển ngành công nghiệp công nghệ sinh học của mình. Mới đây, Chính phủ Sing-ga-po đã thông báo sẽ đầu tư trên 2 tỷ đô la Sing-ga-po (1,17 tỷ đôla Mỹ) cho việc phát triển ngành công nghiệp này, bao gồm 1 tỷ đô-la Sing-ga-po đầu tư thêm cho Quỹ Đầu tư Khoa học Nhân sinh, để hỗ trợ cho việc thành lập và khuyến khích các liên doanh ở Sing-ga-po. Quỹ này sẽ đầu tư cho các công ty nước ngoài để thúc đẩy các hoạt động vì lợi ích đi kèm ở Sing-ga-po; khuyến khích đưa vào thương mại những công nghệ mới do những tổ chức trong nước phát triển; và đầu tư vào những liên doanh tại chỗ để tạo điều kiện cho việc chuyển giao công nghệ và tăng cường năng lực công nghiệp. Chính phủ đã đưa những tổ chức nghiên cứu nước ngoài như Trường đại học Johns Hopkins vào Sing-ga- po. Sáng kiến của chính phủ Sing-ga-po là một minh hoạ cho các chính sách và biện pháp đang được thông qua để khuyến khích phát triển ngành công nghiệp dựa vào tri thức ở các nước đang phát triển.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê