NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Bối cảnh:
Điều khoản XIX của GATT cho phép các bên ký kết đình chỉ tạm thời, toàn bộ hoặc từng phần, hoặc hủy bỏ, hoặc điều chỉnh sự nhượng bộ (các quy định của GATT gọi là "sự bảo vệ" hoặc "điều khoản giải thoát". Điều 201 của Đạo luật buôn bán 1974 (đa sửa đổi), đưa quy định về "điều khoản giải thoát" vào luật pháp buôn bán Mỹ. Nó làm cho các công ty Mỹ chịu thiệt hại, vì hàng hóa nhập khẩu tăng lên có thể đạt được sự cứu trợ tạm thời khỏi cạnh tranh nhập khẩu, cho phép họ có thời gian để hiện đại hóa. Trong khi luật pháp thương mại của Mỹ trước đây cho rằng những sự nhượng bộ về thuế là nguyên nhân làm hàng nhập khẩu tăng lên, thì điều 201 không cần nhiều hơn một chuỗi nguyên nhân như thế, và hiện nay các nhà sản xuất Mỹ có thể đệ trình một loạt các lý do ít được quan tâm để làm tăng cạnh tranh nhập khẩu.
2. Các phương thức của phần 201:
Các cuộc điều tra của Điều 201 đã được ủy ban thương mại quốc tế (ITG) kiểm soát. Các cuộc điều tra bắt đầu khi có đơn kiến nghị cứu trợ của một ngành công nghiệp Mỹ, yêu cầu của Tổng thống hoặc USTR, hoặc một nghị quyết của tổ chức, bằng nhiều cách khác nhau của các đại diện trong nước, của Ủy ban tài chính Thượng nghị viện Mỹ, hoặc một kiến nghị của chính ITC.
Là kết quả của đạo luật buôn bán 1988, một ngành kinh doanh có thể kiến nghị xin cứu trợ tạm thời cho các sản phẩm nông nghiệp có thể bị tiêu diệt nếu các hàng nhập khẩu đã được ITC giám sát trong ít nhất 90 ngày. ITC cần đệ trình một khám phá lên Tổng thống không chậm hơn 21 ngày sau ngày kiến nghị sự cứu trợ tạm thời được chấp thuận. Việc thẩm tra phần 201 của ITC có thể không quá 120 ngày (ở một trường hợp hoàn chỉnh, hạn cuối cùng có thể mở rộng tới 150 ngày.
Trong thời gian này, Ủy ban đi thu thập dự kiến về sản phẩm đã được thẩm tra, về ngành sản xuất Mỹ và về các nhà cung cấp nước ngoài các sản phẩm cho thị trường Mỹ, phát những mẫu câu hỏi cho các nhà nhập khẩu, các nhà sản xuất trong nước và người tiêu dùng. ITC xem xét dự định bảo vệ từ 5 năm trước.
Một người kiến nghị có thể viện lẽ rằng những "tình huống đáng ngại" đang tồn tại và yêu cầu sự cứu trợ tạm thời. Những "tình huống đáng ngại" được định rõ như "một sự tăng lên quan trọng về hàng hóa nhập khẩu (thực hiện hoặc liên quan tới nền sản xuất trong nước), trong một thời gian ngắn có liên quan sẽ gây sự thiệt hại, làm phương hại trầm trọng tới hiệu lực của bất kỳ hoạt động nào trong phần 201 nếu nó bị trì hoãn". Sự cứu trợ tạm thời có thể bao gồm sự đình chỉ ngay lập tức việc thanh toán nợ cho công cụ mới hoặc tăng mức thuế được nêu trong bản kiến nghị. Người kiến nghị được yêu cầu đệ trình các tin tức mô tả những thiệt hại và mức độ thiệt hại do nhập khẩu gây ra liên quan tới các yếu tố khác. Ông ta cần phải cung cấp một thông báo về những cố gắng mà các công ty và những người công nhân trong ngành kinh doanh đang thực hiện, hoặc đặt kế hoạch để xem xét lại và điếu chỉnh cạnh tranh nhập khẩu. Người kiến nghị có quyền lựa chọn việc đệ trình sự điều chỉnh kế hoạch tới ITC và USTR ở một vài điểm trong 120 ngày, thông báo chi tiết những cố gắng có ý định tạo điều chỉnh tích cực tới sự cạnh tranh nhập khẩu.
Ủy ban tổ chức những buổi điều trần công khai về việc điều tra phần 201. Tất cả các tổ chức quan tâm có thể có mặt, đưa ra bằng chứng và đệ trình những thông báo bằng văn bản hoặc bản viết tóm tắt hoàn cảnh của họ (ngành công nghiệp Mỹ cho rằng hàng nhập khẩu đã làm tổn hại trước tiên tới nó; các nhà cung cấp nước ngoài và người tiêu dùng Mỹ cho rằng ngành công nghiệp Mỹ không bị thiệt hại ; hoặc nếu có, nó bị tổn hại bởi những nguyên khác nhiều hơn là do hàng nhập khẩu). Những phát hiện và đề cử của ITC (để cung cấp sự cứu trợ hay không) được gửi tới Tổng thống trong một bản báo cáo chung. Nếu ITC đề cử sự cứu trợ cũng cần phải trình bày với Tổng thống những biện pháp sửa chữa có tính chất gợi ý để ngăn cản hoặc sửa đổi sự thiệt hại cho ngành công nghiệp trong nước. Chỉ có những người trong ủy ban này, những người đã bỏ phiếu chấp nhận cung cấp cứu trợ cho ngành công nghiệp Mỹ mới được lựa chọn để bỏ phiếu V6 sự cứu trợ và khoảng thời gian của nó; những người trong ủy ban đã bỏ phiếu không cứu trợ có thể đệ trình các ý kiến của họ với Tổng thống trong bản báo cáo của ITC gửi cho Tổng thống.
Quyền quyết định của Tổng thống được giới hạn trong hai trường hợp : Nếu ITC đề nghị điều chỉnh cứu trợ để cung cấp cho ngành công nghiệp nặng trong nước, Tổng thống cần phải cung cấp nó. Nếu việc tìm kiếm là tiêu cực, Tổng thống không thể dành sự cứu giúp cho công nghiệp. Nếu ITC cho thấy sự khống chế của các biểu thuế mới hoặc các hạn ngạch, Tổng thống có 60 ngày để quyết định, dù để chấp nhận hoàn toàn sự đề cử của ITC, để thay thế hoặc từ chối nó. Những quyết định của ông ta được giúp đỡ nhờ lời khuyên từ các đại diện chính phủ Mỹ có liên quan đến việc soạn thảo chính sách buôn bán, bao gồm USTR. Văn phòng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Bộ Lao động, Bộ Quốc phòng, Hội đồng cố vấn kinh tế...
Một quyết định của Tổng thống từ chối sự cứu trợ, hoặc để cung cấp sự cứu trợ khác với một quyết định do ITC đề cử có thể bị lật ngược bởi một quyết định chung được thông qua trong 90 ngày của Quốc hội. Tuy nhiên, khi những quyết định chung yêu cầu Tổng thống chấp nhận hoặc phủ quyết, sự đề cử sẽ bị hủy bỏ bởi một biểu quyết đa Số (hơn 2/3 số phiếu) do Thượng Nghị viện và Hạ nghị viện bỏ phiếu. Áp lực của Quốc hội đối với quyền tự quyết của Tổng thống hiện nay là tương đối yếu.
3. Tiêu chuẩn để cứu trợ:
Để đạt được sự cứu trợ theo phần 201, ngành công nghiệp Mỹ cần chỉ ra rằng các sản phẩm nhập khẩu đang tăng lên là "nguyên nhân cơ bản của sự thiệt hại ghê gớm" hoặc "sự đe dọa" tới ngành kinh doanh nước đó. ITC cần xác định : (1) công nghiệp trong nước đã giảm ; (2) quy mô về thiệt hại của nó nếu có ; (3) hàng nhập khẩu đang tăng lên là nguyên nhân cơ bản ; (4) sự cứu trợ thích hợp, nếu có.
3.1 Tiêu chuẩn ITC
Tiêu chuẩn ITC dùng để đánh giá khiếu nại của ngành công nghiệp về thiệt hại nghiêm trọng, bao gồm :
+ Sự không hiệu quả của những phương tiện giúp cho sản xuất dễ dàng (bao gồm các nhà máy đang đóng của, hoặc sử dụng không hết công suất).
+ Sự bất lực của các công ty quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động sản xuất trong nước ở một mức lợi nhuận thích hợp.
+ Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm.
3.2 Tiêu chuẩn đánh giá về đe dọa của thiệt hại
Tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá, những khiếu nại về sự đe dọa của thiệt hại bao gồm :
+ Sự đe dọa trong việc bán hoặc thị trường cổ phiếu, một mặt hàng tồn kho đang hơn (mặc dù đã được duy trì bởi các nhà sản xùất trong nước, các nhà nhập khẩu, các nhà bán buôn hoặc bán lẻ) và một xụ hướng đi xuống trong sản xuất, trong thu lợi nhuận, tiền công, việc làm (hoặc thiếu việc làm).
+ Quy mô các công ty trong ngành kinh dọạnh không thể cung cấp vốn cân xứng để tài trợ cho việc hỉện đại các nhà máy, trang thiết bị trong nước, hoặc không duy trì các nước đang thực hiện những chi phí nghiên cứu và phát triển.
+ Quy mô hàng hóa nhập khẩu có liên quan đang bị phân tán khi vào thị trường Mỹ như kết quả của sự ngăn ngừa hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu đã được nước thứ ba bảo vệ.
Vì việc xem xét phần 201 là nhằm vào hàng hóa nhập khẩu từ các nguồn mà không bị cho là "buôn bán không công bằng? (Ví dụ bán phá giá hoặc được giá) là tiêu chuẩn cho sự phát hiện hàng nhập khẩu đang gây thiệt hại cho một ngành kinh doanh Mỹ cao hơn mức sử dụng trong phần gây thiệt hại đối với các trường hợp chống phá giá hoặc bù đắp thuế quan. Ngược lại, khác với quy định về thiệt hại theo Luật phá giá và bù đắp thuế quan, người kiến nghị cần chỉ ra rằng hàng nhập khẩu bán phá giả hoặc viện trợ đã gây ra sự tổn hại về vật chất chõ nên công nghiệp trong nước. Phần 201 yêu cầu người kiến nghị chỉ ra rằng hàng nhập khẩu làm lạm phát tăng lên, là nguyên nhân cơ bản gây ra sự tổn hại. "Nguyên nhân cơ bản” được định nghĩa là một nguyên nhân quan trọng không kém bất cứ nguyên nhân nào khác. Để xác định rằng hàng nhập khẩu là nguyên nhân cơ bản làm thiệt hại tới nền công nghiệp trong nước, ủy ban sẽ kiểm tra lại xem hàng nhập khẩu có làm tăng (hoặc toàn bộ hoặc liên quan tới sản xuất trong nước) và các nhà sản xuất trong nước đang tạo ra một phần sự suy giảm của thị trường trong nước hay không.
4. Các hình thức cứu trợ:
ITC được quyền đề cử với Tổng thống một hoặc nhiều cách cứu trợ sau cho ngành kinh doanh trong nước đã bị thiệt hại bởi hàng nhập khẩu :
+Thuế quan (hoặc tăng tới 50% thuế quan đang hiện hành)
+ Hạn ngạch tính theo mức thuế nhập khẩu.
+ Hạn ngạch (không thấp hơn số lượng hoặc giá trị đã nhập khẩu trong một thời gian nhất định).
+ Những giúp đỡ để chấn chỉnh lại buôn bán.
+ Tổ chức những cuộc đàm phán trong 90 ngày để thương lượng những thỏa hiệp về thị trường (OMA không cần phải hạn chế khối lượng hoặc giá trị hàng hóa nhập khẩu trọng thời gian đại diện gần đây nhất).
+ Bán đấu giá các giấy phép về hạn ngạch xuất nhập khẩu.
+ Để trình việc lập pháp để thực hiện dê dàng sự cải tiến các hạn ngạch trong công nghiệp.
+ Bảo đảm bất kỳ hoạt động nào khác trong khả năng của ông Tổng thống, những hoạt động sẽ tạo điều kiện cải thiện công nghiệp cho hàng nhập khẩu.
+ Một sự kết hợp nào đó giữa các hình thức trên.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê