Tuy nhiên từ đó đến nay Công ty vẫn chưa thanh toán Lương tháng 2 (và 1 phần Lương tháng 1/2015) cho em. Mặc dù trước đó em đã bàn giao Công việc đầy đủ (có Biên bản xác nhận) nhưng khi hỏi thì Cty cứ hẹn ngày hẹn mai không đưa ra lý do nào cả. Ngoài ra, em đã trả lại thẻ BHYT để Công ty làm thủ tục chốt sổ BH nhưng vẫn chưa nhận được sổ BH của mình. Theo em được biết thì trong vòng 7 ngày làm việc (tối đa 30 ngày) từ ngày chấm dứt HĐLĐ thì Công ty phải hoàn tất các thủ tục cần thiết và trả lại sổ BH cho người LĐ. Nhưng theo như tình hình hiện tại thì có vẻ như Công ty đang cố tình trì hoãn các thủ tục này để kéo dài thời gian làm BHTN của cá nhân em. (Theo em được biết thì các trường hợp thôi việc trước đây Công Ty cũng gây khó khăn bằng cách Treo Lương hoặc trì hoãn giải quyết các thủ tục theo quy định) Ngoài ra, Luật sư cho hỏi cách tính Bảo hiểm thất nghiệp/trợ cấp thôi việc?  Nhờ Luật sư tư vấn giúp em trường hợp này, nếu cần Khiếu nại thì làm như thế nào?

Xin trân trọng cảm ơn Luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật lao động công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động 2012.

Luật bảo hiểm xã hội 2014.

>> Xem thêm:  Hỏi về thanh toán tiền mua tài sản cố định cho công ty?

Luật việc làm 2013.

Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động 2012

2. Nội dung tư vấn:

Về trách nhiệm thanh toán và trả sổ bảo hiểm: 

Tại khoản 3 điều 47 Bộ luật lao động 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động như sau:

“3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

Mặt khác, luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động như sau:

" Điều 21. Trách nhiệm của ngư­ời sử dụng lao động

5. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật."

Sau thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động thì công ty bạn có trách nhiệm thanh toán và trả sổ bảo hiểm xã hội cho bạn, trừ trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì hiện tại sau thời hạn 07 ngày mà công ty vẫn không thanh toán và trả sổ bảo hiểm xã hội cho bạn như vậy là không đúng theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm các chứng từ gì ? Chứng từ nào có thể thanh toán bằng tiền mặt ?

Về thủ tục khởi kiện

Theo quy định tại  Khoản 1 Điều 201 Luật Lao động 2012 có quy định về những tranh cấp lao động cá nhân không  bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải:

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động;" 

Trường hợp công ty cương quyết không  trả sổ bảo hiểm cho bạn, bạn có thể làm đơn khởi kiện gửi đến tòa án huyện nơi công ty bạn có trụ sở yêu cầu tòa giải quyết tranh chấp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn.

Về cách tính bảo hiểm thất nghiệp

Khoản 1 Điều 50 Luật việc làm 2013  quy định về mức hưởng, thời gian, thời điểm hưởng bảo hiểm thất nghiệp, theo đó:

"1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này".

Về cách tính trợ cấp thôi việc

Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động 2012 có quy định về  trợ cấp thôi việc,  trợ cấp mất việc làm:

“Điều 14. Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 Điều 36 và người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Lao động.

>> Xem thêm:  Mẫu bảng kê thanh toán tiền điện nước (Mẫu số 02/TNDN)

2. Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật Lao động cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên bị mất việc làm do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại Khoản 10 Điều 36, Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật Lao động.

3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

4. Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trong một số trường hợp đặc biệt được quy định như sau:

a) Trường hợp người lao động có thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên mất việc làm nhưng thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm ít hơn 18 tháng thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động ít nhất bằng 02 tháng tiền lương;

b) Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã mà người lao động chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm đối với thời gian người lao động đã làm việc cho mình và thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động trước khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

5. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm cho người lao động. Thời hạn thanh toán có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;"

>> Xem thêm:  Người lao động có quyền yêu cầu chủ sử dụng lao động đưa ra bằng chứng là đã đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội (BHXH) được không?

b) Người sử dụng lao động hoặc người lao động gặp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh truyền nhiễm;

c) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế theo quy định tại Điều 13 Nghị định này.

6. Kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động của người sử dụng lao động." 

=> Trợ cấp thôi việc= Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc X Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc 

Trong đó:

Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc: Theo điểm c Khoản 3 Điều 14 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động năm 2012 quy định, “thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc”

Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc: Khoản 3 Điều 48 Luật lao động 2012 quy định: “Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.”

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Lợi dụng bảo hiểm y tế để chuộc lợi, bị xử lý thế nào ?

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư  lao động.

>> Xem thêm:  Bị ngừng việc do công ty không có việc làm có được trả lương không?