1. Nghĩa vụ trả lương, tiền nghỉ phép khi chấm dứt hợp đồng lao động ?

Xin các luật sư tư vấn giúp cho tôi một việc cụ thể như sau: tôi tham gia công tác và đóng bảo hiểm xã hội được 37 năm. Chế độ phép năm của tôi được hưởng là 19 ngày/năm.
Từ tháng 01 đến hết tháng 03 năm 2017, tôi đã được công ty cho nghỉ hết số ngày phép năm nói trên nhưng chưa được thanh toán tiền lương phép năm; vì ở công ty tôi, tiền lương nghỉ phép chỉ thanh toán vào dịp cuối năm cho những người hiện còn đang làm việc. Hiện tại, tôi đã được công ty cho chấm dứt hợp đồng lao động theo nguyện vọng của cá nhân tôi.
Tôi xin hỏi: số ngày phép năm tôi đã nghỉ, công ty không thanh toán; như vậy có đúng không ? Muốn được thanh toán, tôi phải làm thế nào ?
Xin trân trọng cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi tới Luật Minh Khuê. Trường hợp của bạn. Luật Minh Khuê xin được tư vấn như sau:

Vấn đề nghỉ phép năm được Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 Nghị định số 45/2015/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động quy định như sau:

“1. Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

a)12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

b) 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật;

c) 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.

3. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

4. Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.”

Như vậy, theo quy định nêu trên người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hường nguyên lương theo hợp đồng lao động. Bạn đã làm việc tại công ty và tham gia BHXH được 37 năm, số ngày phép năm bạn được hưởng là 19 ngày/năm và theo quy định của pháp luật thì trong 19 ngày nghỉ phép này bạn vẫn được hưởng nguyên lương theo HĐLĐ.

Từ tháng 01/2017 đến tháng 3/2017 bạn đã được hưởng hết số phép năm trên, tuy nhiên lại chưa được công ty thanh toán, theo quy định tại Điều 113 Bộ luật lao động 2019 thì:

2. Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.

3. Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.


Như vậy, khi bạn chấm dứt hợp đồng với công ty, mà trong suốt khoảng thời gian làm việc bạn chưa nghỉ phép năm thì công ty có trách nhiệm phải thanh toán bằng tiền những ngày bạn chưa nghỉ. Những ngày nghỉ hàng năm sẽ được hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động.

Căn cứ chế độ kế toán doanh nghiệp thì ngày nghỉ hằng năm trong năm tài chính thông thường sẽ được tất toán vào cuối niên độ kế toán. Trường hợp có người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động thì doanh nghiệp sẽ xác định số ngày nghỉ hằng năm, số ngày đã nghỉ, số ngày chưa nghỉ để giải quyết thanh toán chế độ cho người lao động trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, theo đúng quy định tại điều 48 và điều 113 Bộ luật lao động, (trường hợp phức tạp nhưng không quá 30 ngày) kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, Công ty có trách nhiệm phải thanh toán đầy đủ các khoản tiền công, tiền lương cho bạn. Đồng thời việc công ty thực hiện trách nhiệm thanh toán tiền nghỉ hàng năm cho người lao động là nghĩa vụ được pháp luật quy định. Mà không phụ thuộc vào chính sách làm việc của công ty đó.

>> Bài viết tham khảo thêm: Sau khi có quyết định chấm dứt HĐLĐ, thì thời gian trả sổ BHXH và thanh toán tiền trợ cấp thôi việc là bao lâu ?

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động thực hiện như thế nào ?

2. Quyền lợi sau khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Thưa luật sư, em có người bạn làm nhân viên kinh doanh ở 1 công ty tư nhân, hơn 1 năm. Trong thời gian đó không có đóng bảo hiểm. Trong thời gian cuối tháng 4 và tháng 5/2016 bạn em có xin nghỉ nhiều lần nhưng công ty không muốn cho nghỉ. Tuy nhiên đến khoảng cuối tháng 5 thì bạn em nghỉ, không đi làm.
Thì trưởng phòng của bạn em có nhắn tin hỏi là có muốn đi làm nữa không? thì bạn em nói không đi làm nữa. Và ngày hôm sau bạn em đã lên công ty bàn giao Laptop, đồng phục ( ngày 27/5). Công ty có sẽ trả lương. Nhưng đầu tháng 6 bạn em vẫn không nhận được lương ( công ty trả lương qua ngân hàng). Bạn em gọi hỏi công ty thì được trả lời là do bạn em nghỉ mà không báo trước 30 ngày. Đến nay là bạn em không nhận được lương luôn. Kính mong luật sư hướng dẫn giúp đỡ chúng em, làm sao để có thế lấy được lương ạ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về quyền lợi sau khi chấm dứt hợp đồng lao động đơn phương ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật lao động 2019 có quy định như sau:

"Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.".

Nếu bạn muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật thì bạn phải đảm bảo thời hạn báo trước và lý do chấm dứt hợp đồng. Nếu bạn đảm bảo được lý do nghỉ việc và thời gian báo trước thì bạn sẽ được trả lương những tháng công ty còn nợ. Nếu công ty vẫn không trả lương bạn có thể khiếu nại và kiện lên tòa án theo quy định sau:

"Điều 188. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan quy định tại khoản 3 Điều 181 của Bộ luật này, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hòa giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải.

4. Hòa giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết tranh chấp.

Trường hợp các bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

Trường hợp các bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét. Trường hợp các bên chấp nhận phương án hòa giải thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

Trường hợp phương án hòa giải không được chấp nhận hoặc có bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành. Biên bản hòa giải không thành phải có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên lao động.

5. Bản sao biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành phải được gửi cho các bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.

6. Trường hợp một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì bên kia có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.

7. Trường hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải quy định tại khoản 1 Điều này hoặc trường hợp hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều này mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành theo quy định tại khoản 4 Điều này thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để giải quyết tranh chấp:

a) Yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu Tòa án giải quyết.".

Nhưng nếu bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật thì sẽ có nghĩa vụ sau:

"Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Vì bạn cung cấp thông tin không đầy đủ nên bạn tham khảo các quy định trên đây để biết được quyền và nghĩa vụ của mình.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ? Mức bồi thường

3. Trách nhiệm trả lương của doanh nghiệp khi chấm dứt hợp đồng lao động?

Kính chào Luật sư! Em nghỉ việc từ ngày 6/8/2015, và công ty sa thải và nói em nghỉ việc vô kỉ luật, nhưng trong quyết định thôi việc có ghi thanh toán lương cho đến hết ngày 6/8/2015 cho em. Nhưng mãi tới ngày 28/8.2015 mà em vẫn chưa có lương ?
Mong được luật sư tư vấn. Em xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật lao động gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Tại Điều 48 Bộ luật lao động 2019 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

"Điều 48. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tkhác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả."

Như vậy, theo như quy định tại khoản 1 Điều luật trên, trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày có quyết định cho bạn nghỉ việc, công ty có trách nhiệm phải thanh toán tiền lương còn nợ cho bạn. Trong trường hợp Công ty không giải quyết đúng thời hạn, bạn có quyền yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp có tranh chấp, bạn có thể làm đơn gửi lên cơ quan hòa giải để được bảo vệ quyền lợi của mình, nếu không thể hòa giải, bạn có quyền làm đơn khởi kiện công ty lên Tòa án nhân dân quận/huyện để giải quyết.

Những điều cần lưu ý: Về vấn đề sa thải người lao động, để xem công ty có quyết định sa thải đúng pháp luật hay không, bạn có thể tham khảo quy định tại Điều 125 Bộ luật lao động về các trường hợp công ty sa thải bạn như vậy là đúng hay không, bởi còn cần dựa vào các thông tin chi tiết hơn chúng tôi mới có thể tư vấn cụ thể cho bạn. Trong trường hợp công ty chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với bạn thì công ty phải có một số nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động 2019 và Nghị định số 28/2020/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

>>Tham khảo bài viết liên quan: Trình tự giải quyết kỷ luật người lao động ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Mẫu giấy xác nhận thu nhập tiền lương, tiền công mới nhất 2020

4. Phụ nữ mang thai có bị chấm dứt hợp đồng lao động không ?

Thưa Luật sư, tôi hiện nay tôi có một số vướng mắc mong Luật sư giải đáp giúp tôi. Hiện tại, đang làm nhân viên cho một Công ty, hợp đồng có thời hạn 1 năm. Tôi đang mang thai được 1 tháng (8/ 2018), đến 12/ 2018 thì hộp đồng lao động của tôi hết hạn. Vậy khi hết hạn hợp đồng công ty có quyền chấm dứt hợp đông lao động với tôi không? Cảm ơn Luật sư đã tư vấn.

Hết hợp đồng lao động người lao động đang mai thai, người sử dụng lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao động không?

Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Khoản 3 Điều 137 Bộ Luật lao động 2019 quy định về bảo vệ thai sản đối với lao động nữ cụ thể như sau:

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

Như vậy theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản và nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Bên cạnh đó theo Điều 34 Bộ Luật lao động 2019 quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động:

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định tại khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

5. Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

6. Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết. Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thi.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật này.

11. Người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều 42 và Điều 43 của Bộ luật này.

12. Giấy phép lao động hết hiệu lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

13. Trường hợp thỏa thuận nội dung thviệc ghi trong hợp đồng lao động mà thử việc không đạt yêu cầu hoặc một bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc.

Như vậy, pháp luật hiện hành chỉ cấm người sử dụng lao động sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do mang thai. Bên cạnh đó, một trong những căn cứ để chấm dứt hợp đồng lao động là hợp đồng đã hết thời hạn, trừ khoản 4 Điều 177Phải gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ cho người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đang trong nhiệm kỳ mà hết hạn hợp đồng lao động.. Trong trường hợp này, người lao động đã có thai 1 tháng (kể từ 8/ 2018) nhưng theo hợp đồng đã giao kết thì đến tháng 12/2018 là hết hạn hợp đồng nên khi thời gian hợp đồng kết thúc sẽ là căn cứ pháp lý để chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp. Do đó, khi hợp đồng hết hạn công ty có quyền chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tiếp tục ký kết một hợp đồng khác với người lao động.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọ ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Tư vấn xây dựng quy chế cho doanh nghiệp

5. Cách chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp ?

Thưa luật sư, Anh chị vui lòng cho em hỏi: Em kí hợp đồng xác định thời hạn với Doanh nghiệp là 3 năm. Ngày 30/07/2016 vừa qua là hết hạn Hơp đồng. Công ty không thông báo gì cho em cả. Ngày 08/08/2016, em nhận được thư thông báo chấm dứt Hợp động của em với công ty. Vậy công ty chấm dứt hợp đồng cho em thì có đúng quy định pháp luật không ạ?
Cảm ơn anh chị ạ!

Trả lời:

Công ty không thông báo cho bạn về thời điểm hợp đồng xác định thời hạn hết hạn là trái quy định của pháp luật, cụ thể là điều 48 Bộ luật lao động năm 2019, cụ thể là:

"Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm...".

Ngày 8/8/2016 công ty gửi thư thông báo chấm dứt hợp đồng vẫn phù hợp với quy định của pháp luật, bởi vì Điều 20 BLLĐ 2019 quy định:

"2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; trong thời gian chưa ký kết hợp đồng lao động mới thì quyn, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết;

b) Nếu hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn mà hai bên không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

c) Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao động đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.".

Công ty chấm dứt muộn trong khoảng thời gian ngày 8/8/2016 khi hợp đồng đã chấm dứt được 1 tuần là không trái với quy định của pháp luật.

Thưa luật sư tôi có HĐLĐ đã ký 2 năm nhưng công ty có lý do đóng cửa nên tạm ngưng hoạt đông. Vậy công ty sẽ thanh toàn bồi thường cho tôi như thế nào. tôi làm việc tại công ty 2 năm 5 tháng.

Nếu công ty tạm ngưng hoạt động thì các bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

Bạn sẽ vẫn được thanh toán các quyền theo quy định tại điều 48 Bộ luật lao động năm 2019, cụ thể là:

"Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tkhác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả."

"Điều 46. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.".

Kính gởi luật sư, tôi hiện tại đang làm trong 1 Tổng Công ty và tôi có nhận được một văn bản từ một đơn vị thành viên về việc giải quyết chế độ lao động như sau: Ngày 15/02/2016 Công ty ra quyết định về việc chấm dứt hợp đồng với ông X Giám đốc một ban điều hành trực thuộc Công ty và theo quyết định Công ty phải trả cho ông X tiền trợ cấp thôi việc là khoản 26 triệu. Tuy nhiên, theo xác nhận của phòng kế toán, ông X vẫn còn công nợ với công ty với số tiền khoản 32 tỉ đông. Ngày 06/04/2016 ông X có làm giấy đề nghị giải quyết tiền trợ cấp thôi việc với lý do ông đang gặp khó khăn do sức khỏe. Công ty có hỏi việc thu hồi toàn bộ số tiền trợ cấp thôi việc của ông X để trả một phần nợ của ông X đối với công ty có phù hợp với pháp luật hay không?? Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn cho vấn đề trên về các quy định pháp luật hiện hành trong việc chi trả tiền trợ cấp thôi việc cho ông X và cách giải quyết vấn đề trên theo pháp luật.

Hiện tại pháp luật không có quy định khấu trừ tiền trợ cấp thôi việc vào số tiền người lao động nợ công ty nên 2 bên có thể thỏa thuận về nội dung này. Nếu hai bên chưa thỏa thuận được thì các bên vẫn phải làm rõ từng khoản và hoàn trả cho nhau.

Kính gửi Anh/Chị Kính chào các anh chị, các anh chị có thể tư vấn cho em 1 trường hợp sau được không ạ: Bên em có một trường hợp người lao động có thời hạn kết thúc hợp động là ngày 2/5/2016. Nhưng ngày 25/4/2016 anh ấy mới nộp phép xin nghỉ tới khi kết thúc hợp đồng bắt đầu từ ngày 27/4 nhưng công ty không đồng ý với đơn này nhưng anh vẫn tự ý nghỉ không quay lại làm việc. Tới khi bên em thanh toán lương bên em chỉ thánh toán tiền tới 27/4 và không truy cứu gì thêm coi như hợp đồng anh ấy kết thúc ngày 27/4. Sau đấy anh ấy gửi mail thắc mắc tại sao không thanh toán ngày lễ ngày 30/4, 01/5, 02/05. ANh chị cho em hỏi công ty em làm vậy có đúng không ạ. Em rất mong sự giải đáp của anh chị để bên em thực hiện cho đúng

Khi người lao động giao kết hợp đồng xác định thời hạn thì thời hạn báo trước khi chấm dứt hợp đồng xác định thời hạn là 30 ngày theo quy định tại điều 35 BLLĐ năm 2019. Tuy nhiên, anh này báo trước 3 ngày và ngày 27/4/2016 anh này bắt đầu nghỉ.

Nếu công ty đồng ý với lý do nghỉ của anh này, tức là 2 bên thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ từ ngày 27/4/2016, quyền và nghĩa vụ của các bên chấm dứt, tức là công ty không phải thanh toán tiền các ngày lễ cho anh này. Hoặc công ty chứng minh được việc anh này tự ý nghỉ luôn tại công ty thì công ty không phải thanh toán.

Tuy nhiên, nếu như anh này chứng minh được công ty từ chối không cho chấm dứt hợp đồng, tức là giữa 2 bên vẫn tồn tại quan hệ lao động , do đó, công ty vẫn có nghĩa vụ phải trả lương những ngày lễ này cho người lao động vì Hợp đồng ngày 2/5/2016 mới kết thúc. Còn vấn đề người này nghỉ liên tiếp như vậy thì họ có nghĩa vụ thanh toán cho công ty theo quy định tại HĐLĐ và nội quy của công ty.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Năm 2020, Công ty sẽ bị phạt bao nhiêu tiền khi không nộp thang lương, bảng lương ?