- 1. Khái quát về thi hành án hành chính
- 2. Bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành
- 3. Đương sự trong thi hành án hành chính
- 4. Quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án và người phải thi hành án.
- a. Quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án
- b. Quyền, nghĩa vụ của người phải thi hành án
- 5. Các trường hợp thi hành án hành chính
- a. Thi hành bản án, quyết định của Tòa án về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
- b. Trường hợp thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã hủy toàn bộ hoặc một phần
- c. Trường hợp thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc
- d. Trường hợp thi hành bản án, quyết định của Tòa án về hành vi hành chính
1. Khái quát về thi hành án hành chính
Những bản án, quyết định của Toà hành chính đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành bao gồm:
1) Bản án, quyết định sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
2) Bản án, quyết định phúc thẩm;
3) Bản án, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm;
4) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ lợi ích cấp thiết của các bên đương sự hay để đảm bảo thị hành án;
5) Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành bản án, quyết định của Toà án. Những người thiếu trách nhiệm trong việc thí hành bản án hành chính hoặc cố tình không chấp hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lí kỉ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành
Cơ sở pháp lý: Điều 309 Luật tố tụng hành chính năm 2015
Theo Điều 309 quy định về những bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành như sau:
- Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
- Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm.
- Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án.
- Quyết định theo thủ tục đặc biệt của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại Điều 296 của Luật này.
- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án mặc dù có khiếu nại, kiến nghị.
3. Đương sự trong thi hành án hành chính
Cơ sở pháp lý: Khoản 2 điều 3 Nghị định 71/2016/NĐ-CP; Luạt tố tụng hành chính năm 2015.
Theo đó, Đương sự bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án.
- Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền lợi trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành.
- Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành.
4. Quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án và người phải thi hành án.
a. Quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án
Cơ sở pháp lý: Điều 5 Nghị định 71/2016/NĐ-CP
- Người được thi hành án có các quyền theo quy định của Luật tố tụng hành chính và các quyền sau đây:
+ Yêu cầu người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính, Nghị định này và pháp luật có liên quan;
+ Yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ, đính chính sai sót trong bản án, quyết định để thi hành;
+ Được thông báo về thi hành án;
+ Đề nghị Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành án hành chính khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án;
+ Đề nghị người đứng đầu, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo và xem xét xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án, người đứng đầu của người phải thi hành án trong trường hợp chậm thi hành án, không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật;
+ Đề nghị cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm theo dõi việc thi hành án hành chính theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan;
+ Khiếu nại, tố cáo về thi hành án hành chính;
+ Ủy quyền cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
- Người được thi hành án có các nghĩa vụ theo quy định của Luật tố tụng hành chính và các nghĩa vụ sau đây:
+ Thi hành bản án, quyết định của Tòa án;
+ Thông báo cho người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;
+ Thông báo kết quả thi hành án cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp và cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm trong trường hợp người được thi hành án là cơ quan.
b. Quyền, nghĩa vụ của người phải thi hành án
Cơ sở pháp lý: Điều 6 Nghị định 71/2016/NĐ-CP
- Người phải thi hành án có các quyền theo quy định của Luật tố tụng hành chính và các quyền sau đây:
+ Được thông báo về thi hành án;
+ Yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ, đính chính sai sót trong bản án, quyết định để thi hành;
+ Khiếu nại, tố cáo về thi hành án hành chính.
- Người phải thi hành án có các nghĩa vụ theo quy định của Luật tố tụng hành chính và các nghĩa vụ sau đây:
+ Chấp hành đúng, đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định của Tòa án;
+ Thông báo cho người được thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;
+ Thông báo kết quả thi hành án cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp và cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm trong trường hợp người phải thi hành án là cơ quan;
+ Cung cấp thông tin, các tài liệu có liên quan về quá trình và kết quả thi hành án theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan có thẩm quyền.
5. Các trường hợp thi hành án hành chính
a. Thi hành bản án, quyết định của Tòa án về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Cơ sở pháp lý: Điều 15 Nghị định 71/2016/NĐ-CP quy định thi hành bản án, quyết định của Tòa án về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện như sau:
- Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri mà quyết định đó chưa được thi hành hoặc mới thi hành được một phần thì các bên đương sự phải tiếp tục thi hành quyết định đó.
- Cơ quan có thẩm quyền có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính để thi hành quyết định hành chính có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
Việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được thực hiện theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.
b. Trường hợp thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã hủy toàn bộ hoặc một phần
Cụ thể là trường hợp thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã hủy toàn bộ hoặc một phần quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được quy định như sau:
- Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên hủy toàn bộ quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, người phải thi hành án phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo nội dung bản án, quyết định của Tòa án và theo quy định của pháp luật; thực hiện kiến nghị của Tòa án về việc xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy; trường hợp quyết định đó đã được thi hành toàn bộ hoặc một phần thì cơ quan đã ban hành quyết định hành chính phải thực hiện các thủ tục, biện pháp để khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên hủy một phần quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, người phải thi hành án phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo nội dung bản án, quyết định của Tòa án và theo quy định của pháp luật; thực hiện kiến nghị của Tòa án về việc xử lý đối với phần quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy; trường hợp phần quyết định bị hủy đã được thi hành toàn bộ hoặc một phần thì cơ quan đã ban hành quyết định hành chính phải thực hiện các thủ tục, biện pháp để khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định của pháp luật.
Các bên có trách nhiệm thi hành phần không bị tuyên hủy trong bản án, quyết định của Tòa án theo thi hành bản án, quyết định của Tòa án về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện (quy định tại Điều 15 Nghị định này.)
c. Trường hợp thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc
Theo Điều 17 Nghị định 71/2016 quy định về trường hợp: "Thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc" như sau:
- Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc phải nhận người bị buộc thôi việc trở lại làm việc và công bố công khai theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Việc tiếp nhận trở lại làm việc phải lập thành biên bản, có sự chứng kiến và ký tên vào biên bản của Chấp hành viên.
- Sau 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định buộc thi hành án hành chính mà người phải thi hành án vẫn không tiếp nhận người bị buộc thôi việc trở lại làm việc, cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu các bên đến trụ sở cơ quan thi hành án dân sự để lập biên bản ghi nhận sự việc. Biên bản nêu rõ lý do không thi hành án, ghi nhận ý kiến của các bên, vướng mắc, khó khăn để làm căn cứ xem xét xử lý trách nhiệm. Trường hợp một trong các bên vắng mặt không có lý do chính đáng, cơ quan thi hành án dân sự vẫn lập biên bản để làm căn cứ xem xét xử lý trách nhiệm.
d. Trường hợp thi hành bản án, quyết định của Tòa án về hành vi hành chính
Về trường hợp thi hành bản án, quyết định của Tòa án về hành vi hành chính được Ngị định 71/2016/NĐ-CP (điều 18) quy định như sau:
- Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên bố hành vi hành chính đã thực hiện là trái pháp luật thì người phải thi hành án phải chấm dứt thực hiện hành vi hành chính đó kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án. Việc chấm dứt thực hiện hành vi hành chính phải được lập thành biên bản, có sự chứng kiến và ký tên vào biên bản của Chấp hành viên.
Người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự lập biên bản về việc người phải thi hành án vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trái pháp luật sau khi đã bị Tòa án tuyên là trái pháp luật. Người đứng đầu cơ quan của người thực hiện hành vi hành chính trái pháp luật có trách nhiệm yêu cầu người đó chấm dứt thực hiện hành vi hành chính theo đúng bản án, quyết định của Tòa án.
- Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên bố hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ là trái pháp luật thì người phải thi hành án phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án.
Người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự lập biên bản về việc người phải thi hành án vẫn không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Người đứng đầu cơ quan của người không thực hiện hành vi hành chính có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo đúng bản án, quyết định của Tòa án.
Đối với trường hợp thi hành bản án, quyết định buộc sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại điều 19 Nghị định 71/2016 như sau:
- Người đứng đầu cơ quan phải thi hành án phải thực hiện ngay việc sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri; tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính; không thực hiện hoặc phải thực hiện hành vi nhất định theo đúng quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Việc sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri, thực hiện biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được lập thành biên bản, có sự chứng kiến và ký tên vào biên bản của Chấp hành viên.
- Trường hợp người phải thi hành án không sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri, không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự lập biên bản về việc người phải thi hành án không chấp hành án, đồng thời thực hiện quyền theo quy định tại điểm đ, điểm e khoản 1 Điều 5 Nghị định 71/2016/NĐ-CP này.
Trân trọng!