1. Chính sách thi hành án phạt tù trước đây

Trong thời gian chấp hành hình phạt, người bị kết án phải bị giam giữ, lao động và học tập ở trại giam dưới sự quản lí của ban giám thị trại giam.

Từ những năm đầu của Nhà nước Việt Nam dân ành lập hệ thống toà ược thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau. Đến năm 1950, Sắc lệnh ngày 07.01.1950 về tổ chức các trại giam quy định “Bộ Nội vụ có nhiệm vụ tổ chức và kiểm soát các trại giam trong phạm vi toàn quốc". Quy định này đã thống nhất việc thi hành á ù Bộ Nội vụ thực hiện. Từ đó đến nay các quy định về thi hành án phạt tù đã các quy định về thi hành án phạt tù đã có sự thay đổi phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng thời kì.

Hiện nay, Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh thi hành án phạt tù quy định bản án phạt tù do cơ quan Công an thi hành sau khi nhận được quyết định thi hành án của Toà án. Khi đưa người bị kết án vào trại giam để chấp hành hình phạt phải đảm bảo đủ các loại giấy tờ: Bản sao bản án, quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành bản án, quyết định đó của Toà án; danh chỉ bản xác định căn cước của người bị kết án phạt tù; quyết định của cơ quan quản lí trại giam đưa người bị kết án tù vào trại giam.

Nếu người bị kết án đang tại ngoại đã quá 7 ngày kể từ ngày họ nhận được quyết định thi hành án mà không có mặt ở cơ quan Công an để chấp hành hình phạt thì họ sẽ bị áp giải để thi hành án. Nếu người bị kết án đang bị tạm giam mà có yêu cầu của thân nhân người bị kết án thì cơ quan Công an phải cho phép người bị kết án gặp thân nhân trước khi thi hành án. Căn cứ vào tính chất tội phạm, hình phạt của bản án và tuổi của người bị kết án mà cơ quan công an buộc người đó phải chấp hành hình phạt ở trại giam nào để họ có điều kiện cải tạo tốt. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày tiếp nhận người bị kết án, giám thị trại giam phải thông báo bằng văn bản cho toà án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan quản lí thi hành án và thân nhân người bị kết án.

Cơ quan Công an phải báo cho toà án biết việc bắt người bị kết án để thi hành án hoặc lí do chưa bắt được và biện pháp cẩn áp dụng để bảo đảm việc thi hành án.

2. Quy định thi hành án phạt tù hiện nay

Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo. (Xem: Điều 3 Luật thi hành án hình sự năm 2019).

2.1 Thi hành quyết định thỉ hành án phạt tù

- Việc gửi quyết định thi hành án phạt tù (Điều 22 Luật thi hành án hình sự năm 2010)

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây: Người chấp hành án và người đại diện trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi; Viện kiểm sát cùng cấp; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; Trại tạm giam nơi người chấp hành án đang bị tạm giam hoặc cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ hoặc đang tại ngoại; Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở; Bộ Ngoại giao trong trường hợp người chấp hành án là người nước ng

- Thi hành quyết định thi hành án phạt tù trong trường hợp người bị kết án đang bị tạm giam:

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam cấp quân khu thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trường hợp người đang chấp hành án bị kết án về hành vi phạm tội khác thì trại giam tống đạt quyết định thi hành án của bản án mới cho người đó.Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án.

- Thi hành quyết định thi hành án phạt tù trong trường hợp người bị kết án đang tại ngoại

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định trong quyết định thi hành án; quá thời hạn này mà người đó không có mặt, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải thi hành án

2.2 Hoãn chấp hành án phạt tù

Bản án phạt tù có hiệu lực pháp luật phải được thi hành. Tuy nhiên, đối với người bị kết án tù đang tại ngoại, việc bắt họ phải chấp hành hình phạt tù khi bản án có hiệu lực pháp luật có thể ảnh hưởng nặng nề đến bản thân họ hoặc đời sống của những người thân trong gia đình họ. Trong trường hợp Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có thể tự mình hoặc theo đơn đề nghị của người bị kết án, văn bản đề nghị của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc hoặc cư trú ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.

Trong trường hợp này, chánh án toà án đã ra quyết định thi hành án có thể tự mình hoặc theo đề nghị của viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nơi người phải chấp hành án cư trú hoặc người bị kết án cho hoãn chấp hành hình phạt tù trong thời gian nhất định. Đơn đề nghị hoặc văn bản đề nghị phải được gửi cho toà án đã ra quyết định thi hành án kèm theo giấy tờ có liên quan (Điều 24 Luật thi hành án hình sự năm 2019).

Theo quy định tại Điều 67 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, việc giải quyết hoãn chấp hành hình phạt tù được áp dụng trong các trường hợp và thời hạn sau:

- Người bị xử phạt tù bị bệnh nặng. Trường hợp này được hoãn cho đến khi sức khoẻ được hồi phục.

- Người bị xử phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trường họp này được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi.

- Người bị xử phạt tù là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp này được hoãn đến 01 năm.

- Người bị kết án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng nhưng cần hoãn thi hành án do nhu cầu công vụ. Trường hợp này được hoãn đến 01 năm.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù, chánh án toà án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét, quyết định. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, toà án đã ra quyết định hoãn phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau: người chấp hành án; viện kiểm sát cùng cấp; cờ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nơi người được hoãn thi hành án đang cư trú; sở tư pháp nơi toà án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

Điều 25 Luật thi hành án hình sự năm 2019 quy định Khi nhận được quyết định hoãn chấp hành án phạt tù của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải ngừng việc làm thủ tục đưa người chấp hành án phạt tù đi chấp hành án, sao gửi quyết định hoãn chấp hành án phạt tù cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hoãn chấp hành án cư trú hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý người đó và lập hồ sơ thi hành quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người được hoãn chấp hành án đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc đơn vị quân đội đang quản lý người đó để thông báo quyết định và yêu cầu người đó cam kết bằng văn bản chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Người được hoãn chấp hành án phạt tù phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp người được hoãn chấp hành án phạt tù không cam kết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù để xử lý theo thẩm quyền.

Hằng tháng, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án phạt tù phải báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc quản lý người được hoãn chấp hành án.

Người được hoãn chấp hành án không được đi khỏi nơi cư trú trong thời gian được hoãn chấp hành án nếu không được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội và phải có mặt theo yêu cầu triệu tập của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án.

Trong thời gian được hoãn chấp hành án mà người được hoãn chấp hành án phạt tù lại thực hiện hành vi phạm tội mới, bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đề nghị Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét ra quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù

2.3 Tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

Khác với hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được áp dụng đối với người bị kết án phạt tù đang chấp hành hình phạt tù khi có một trong các căn cứ giống như căn cứ hoãn phạt tù (Xem: Khoản 1 Điều 68 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thuộc về chánh án toà án cấp tỉnh, toà án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án (Xem: Khoản 3 Điều 31 Luật thi hành án hình sự năm 2010). Người ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó. Quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm phải gửi cho toà án, viện kiểm sát nơi đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cơ quan thi hành án có thẩm quyền (Xem: Điều 377, 403 Bộ luật tố tụng hình sự).

Thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù như sau: trại giam; trại tạm giam thuộc Bộ công an; trại tạm giam thuộc Bộ quốc phòng; cơ quãn thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, viện kiểm sát quân sự cấp quân khu (Xem:Điều 31 Luật thi hành án hình sự năm 2010).

Các cơ quan trên có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù vầ chuyển cho toà án có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, chánh án toà án cấp tỉnh, toà án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phải xem xét, quyết định.

Ngay sau khi có quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau: người được tạm đình chỉ; cơ quan đề nghị tạm đình chỉ, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nơi người được tạm đình chỉ đang chấp hành án; cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lí người đó; viện kiểm sát cùng cấp; toà án đã ra quyết định thi hành án; sở tư pháp nơi toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ có trụ sở.

Trường hợp viện trưởng viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt tù thì phải gửi quyết định đó cho sở tư pháp nơi viện kiểm sát đã ra quyết định có trụ sở và cá nhân, cơ quan quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 32 Luật thi hành án hình sự năm 2010. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nơi trực tiếp quản lí người được tạm đình chỉ thi hành án tổ chức giao người được tạm đình chỉ cho uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lí người đó; thân nhân của người được tạm đình chỉ có nghĩa vụ tiếp nhận người được tạm đình chỉ. Uỷ ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quần lí người được tạm đình chỉ có ữách nhiệm theo dõi, giám sát người được tạm đình chỉ, xem xét, giải quyết cho người đó được đi khỏi nơi cư trú, làm việc.

Việc tiếp tục thi hành án đối với người được tạm đình chỉ thực hiện như sau:

- Chậm nhất là 07 ngày trước khi hết thời hạn tạm đình chỉ, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nơi người được tạm đình chỉ về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lí người đó có trách nhiệm thông báo cho người đang được tạm đình chỉ biết và yêu cầu người đó có mặt tại nơi chấp hành án đúng thời gian quy định. Quá thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm đình chỉ chấp hành ận phạt tù mà người được tạm đình chỉ không có mặt tại trại giam, trại tạm giam hoặc cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện để tiếp tục chấp hành án mà không có lí do chính đáng thì thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu quyết định áp giải thi hành án;

- Đối với người được tạm đình chỉ do bị bệnh nặng và khó xác định tình trạng sức khoẻ của người đó thì cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh nơi người được tạm đinh chỉ về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lí người đó có trách nhiệm trưng cầu giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu. Trường hợp kết quả giám định xác định sức khoẻ người được tạm đình chỉ đã phục hồi thì cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện việc đưa người đó đến nơi chấp hành án và thông báo cho chánh án toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ;

- Trong thời gian được tạm đình chỉ, người được tạm đình chỉ có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ cho rằng người đó có thể bỏ trốn thì uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lí người tạm đình chỉ thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nơi người được tạm đình chỉ cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị quân đội được giao quản lí để các cơ quan này thông báo cho chánh án toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, chánh án toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ phải xem xét ra quyết định chấm dứt việc tạm đình chỉ và gửi quyết định đó cho cơ quan thỉ hành án hình sự công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thực hiện áp giải thi hành án.

Trường hợp người được tạm đình chỉ bỏ trốn, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và phối hợp tổ chức truy bắt.

Trường hợp người được tạm đình chỉ chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó báo cáo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ và Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trường hợp người được tạm đình chỉ chết khi đang điều trị tại bệnh viện theo quy định tại khoản 3 Điều này thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ và Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp.

Thời gian nguời bị kết án được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt (Xem: Khoản 2 Điều 68 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

2.4 Giảm thời hạn, miễn chấp hành án phạt tù

Giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành án phạt tù vừa là sự ghi nhận của Nhà nước về sự tiến bộ của người bị kết án trong quá trình chấp hành hình phạt, vừa là một trong những biện pháp khuyến khích có hiệu quả cao không chỉ đối với người được áp dụng mà còn cả với những người đang chấp hành hình phạt khác, thúc đẩy nhanh quá trình cải tạo, giáo dục họ trở thành người lương thiện. Ngoài ra, việc giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt còn giúp Nhà nước giảm bớt những chi phí không cần thiết cho việc quản lí giam giữ những người bị kết án không còn nguy hiểm cho xã hội, giúp cho người bị kết án nhanh chóng hoà nhập với đời sống xã hội. Vì vậy, đây còn được coi là một biện pháp mang tính nhân đạo của Nhà nước (Điều 33, Điều 34 Luật thi hành án hình sự năm 2010).

- Điều kiện giảm thời hạn, miễn chấp hành hình phạt tù (các điều 62, 63, 64 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)

Người bị kết án phạt tù được miễn chấp hành hỉnh phạt khi được đặc xá hoặc đại xá. Người bị kết án tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của viện trưởng viện kiểm sát, toà án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt nếu thuộc một ữong các trường hợp: sau khi bị kết án đã lập công; mắc bệnh hiểm nghèo; chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội. Người bị kết án phạt tù có thời hạn ưên 03 năm, chựa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì theo đề nghị của viện trưởng viện kiểm sát, toà án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt. Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì theo đề nghị của viện trưởng viện kiểm sát, toà án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Người bị kết án phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã thực hiện được một phần nghĩa vụ dân sự thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, toà án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân. Một người có thể được giảm nhiều lần nhung phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên. Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm. Trường họp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì toà án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý thì toà án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì toà án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm. Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án từ hình thuộc trường họp đủ 75 tuổi trở lên hoặc người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lí tội phạm hoặc lập công lớn thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhung vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm. Trong trường họp đặc biệt, người bị kết án có lí do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì toà án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn.

- Thẩm quyền, thủ tục giảm thời hạn, miễn chấp hành hình phạt tù

Toà án nhân dân cấp tỉnh, toà án quân sự quân khu nơi người bị kết án chấp hành hình phạt có thẩm quyền quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. Toà án nhân dân cấp tỉnh, toà án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc có thẩm quyền quyết định miễn chấp hành hình phạt tù.

Tất cả các trường hợp xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt hoặc rút ngắn thời gian thử thách đều phải được cơ quan thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao nhiệm vụ trực tiếp giám sát, giáo dục lập hồ sơ đề nghị và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền.

Khi toà án xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, một thành viên của toà án trình bày vấn đề cần được xem xét, đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến, toà án ra quyết định chấp nhận hoặc bác đề nghị giảm thời hạn hay miễn chấp hành hình phạt hoặc rút ngắn thời gian thử thách.

2.5 Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện

- Điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 368 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn nếu có đủ các điều kiện: phạm tội lần đầu; có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên; có nơi cư trú rõ ràng; đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự; đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức thời hạn tù đối với hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 15 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn (trường hợp người phạm tội là thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì thời gian đã chấp hành ít nhất là một phần ba hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 12 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn); không thuộc một trong các trường họp: bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội khủng bố; tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh hoặc bị kết án từ 10 năm tù trở lên đối với tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm của con người; 07 năm tù trở lên đối với các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và sản xuất trái phép, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma tuý; bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Xem: Các khoản 1,2 Điều 66 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 201.

- Lập và chuyển hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện

Trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc về trại giam, trại tạm giam thuộc bộ công an, trại tạm giam thuộc bộ quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

Hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện gồm: đơn xin tha tù trước thời hạn của phạm nhân kèm theo cam kết không vi phạm pháp luật, các nghĩa vụ phải chấp hành khi được tha tù trước thời hạn; bản sao bản án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi hành án; bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm ữọng trở lên; văn bản, tài liệu thể hiện việc chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí, các nghĩa vụ dân sự; tài liệu về cá nhân, hoàn cảnh gia đình của phạm nhân; kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù quý, 06 tháng, năm; quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc phạm nhân lập công (nếu có); văn bản đề nghị tha tù trước thời hạn của cơ quan lập hồ sơ.

Nội dung chính của văn bản đề nghị tha tù trước thời hạn của cơ quan lập hồ sơ gồm: số, ngày, tháng, năm của văn bản; họ tên, chức vụ, chữ kí của người có thẩm quyền đề nghị; họ tên, giới tính, năm sinh, nơi cư trú của phạm nhân; nơi phạm nhân chấp hành thời gian thử thách; thời gian đã chấp hành án phạt tù; thời gian chấp hành án phạt tù còn lại; nhận xét và đề nghị của cơ quan lập hồ sơ.

Trường hợp viện kiểm sát, toà án yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ sung tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung tài liệu và gửi cho viện kiểm sát, toà án.

Cơ quan lập hồ sơ phải chuyển hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, toà án nhân dân cấp tỉnh, toà án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù.

- Chuẩn bị phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, viện kiểm sát quân sự cấp quân khu phải ra văn bản thể hiện quan điểm về việc đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của cơ quan đề nghị. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, chánh án toà án toà án nhân dân cấp tỉnh, toà án quân sự cấp quân khu phải mở phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện; đồng thời thông báo bằng văn bản cho viện kiểm sát cùng cấp để cử kiểm sát viên tham gia phiên họp. Thành phần hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện gồm chánh án là chủ tịch hội đồng và 02 thẩm phán là thành viên hội đồng. Tham gia phiên họp còn có thư kí phiên họp và đại diện cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị xét tha tù trước thời hạn có điều kiện.

- Phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tại phiên họp, một thành viên của hội đồng trình bày tóm tắt hồ sơ đề nghị. Kiểm sát viên trình bày quan điểm của viện kiểm sạt về việc đề nghị xét tha tù trước thời hạn có điều kiện cùa cơ quan đề nghị và việc tuân thủ pháp luật trong việc xét, quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Đại diện cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị có thể trình bày bổ sung để làm rõ việc đề nghị tha tù trước thời hạn.

Phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện được lập biên bản. Biên bản ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên họp; thành phần tham gia phiên họp; nội dung, diễn biến, phiên họp và quyết định của hội đồng về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với từng phạm nhân. Sau khi kết thúc phiên họp, kiểm sát viên xem biên bản phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung (nếu có) vào biên bản phiên họp; chủ tịch hội đồng phải kiểm tra biên bản, cùng với thư kí phiên họp kí vào biên bản.

- Gửi quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, toà án phải gửi quyết định cho phạm nhân, viện kiểm sát cùng cấp, viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị, toà án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, cấp quân khu, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người được tha tù trước thời hạn về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lí người đó, sở tư pháp nơi toà án đã ra quyết định có trụ sở.

- Thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện

Ngay sau khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết định này và thực hiện các thủ tục thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.

- Huỷ bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện

Các trường hợp huỷ bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện: Trong thời gian thử thách, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần ữở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên thì toà án có thể huỷ bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Trong thời gian thử thách, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện hành vi phạm tội mới thì toà án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Thủ tục huỷ bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện: Nếu người được tha tù vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách đến mức phải huỷ bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nơi người được tha tù trước thời hạn về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lí người đó phải lập hồ sơ chuyển đến viện kiểm sát, toà án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, huỷ quyết định đã ban hành và buộc người đó phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, toà án phải mở phiên họp để xem xét, quyết định. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định huỷ bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, toà án phải gửi quyết định cho cơ quan, cá nhân đã được nhận quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Khiếu nại, kháng nghị và trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết

Phạm nhân có quyền khiếu nại quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định huỷ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII Bộ luật tố tụng hình sự.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định huỷ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết kháng nghị được thực hiện theo quy định tại Chương XXII Bộ luật tố tụng hình sự.

- Rút ngắn thời gian thử thách, cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù

Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được tha tù không vi phạm nghĩa vụ đến mức phải huỷ bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì hết thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đã quản lí họ có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù. Xem: Điều 66 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 368 Bộ luật tố tụng hình sự; Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT- BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/02/2018 của Bộ công an, Bộ quốc phòng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật hình sự, luật tố tụng hình sự - Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê