1. Thời gian điều tra vụ án hình sự trong bao lâu ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Thời gian điều tra trong khoảng thời gian là bao lâu? Anh A phải làm thế nào để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ?
Mong các luật sư giúp đỡ gia đình chúng tôi. Gia đình xin chân thành cảm ơn quý công ty.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về điều tra hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, anh A trộm tiềm trong két sắt của anh B phạm tội trộm cắp tài sản. Căn cứ Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định như sau:

"Điều 173. Tội trộm cắp tài sản...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

g) Tái phạm nguy hiểm."

Như vậy, anh A sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự và khả năng sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Theo khung hình phạt đó, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Căn cứ Khoản 2 Điều 9 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định như sau:

"Điều 9. Phân loại tội phạm

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:

1. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

2. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;

3. Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;

4. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình."

Như vậy, khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Thứ hai, thời hạn điều tra vụ án hình sự đối với loại tội phạm nghiêm trọng. Căn cứ Khoản 1 Điều 172 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015.

"Điều 172. Thời hạn điều tra

1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra...."

Thứ ba, làm thế nào để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ?

Căn cứ Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định như sau:

"Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe doạ hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng."

Như vậy, nếu anh A có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 đã nêu trên thì sẽ được giảm nhẹ hình phạt.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn quản trị tài chính cho doanh nghiệp

2. Khi nào tạm đình chỉ điều tra vụ án ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em bị người ta đánh và mất 30% sức khoẻ, đã được khởi tố nhưng điều tra viên đã không xử lý và đã gửi cho em 1 giấy tạm đình chỉ vụ án. Cho đến nay đã được 1 năm rồi và tiền người ta bồi thường thì điều tra viên cũng cầm hết không giải quyết. Cho em hỏi bây giờ em nên làm gì ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: V.D

Tư vấn về việc bị điều tra giữ tiền bồi thường và không chịu giải quyết vụ án ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 247, Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

"Điều 247. Tạm đình chỉ vụ án
1. Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong các trường hợp:
a) Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ vụ án trước khi hết thời hạn quyết định việc truy tố;
b) Khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố; trong trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị can được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này;
c) Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp mà chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp tiếp tục tiến hành cho đến khi có kết quả.
2. Quyết định tạm đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do, căn cứ tạm đình chỉ vụ án, các vấn đề khác có liên quan và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can thì tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can."
"Điều 248. Đình chỉ vụ án
1. Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự.
2. Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do và căn cứ đình chỉ vụ án, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), các vấn đề khác có liên quan và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can thì quyết định đình chỉ vụ án đối với từng bị can."

Như vậy, việc đình chỉ chỉ được thực hiện nếu thuộc một trong số các trường hợp trên và phải do Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án. Nhưng theo thông tin bạn đưa thì chúng tôi hiểu Điều tra viên đã thực hiện việc tạm đình chỉ vụ án và "tiền người ta bồi thường thì điều tra viên cũng cầm hết không giải quyết ".Vì vậy, điều tra viên đã vi phạm các quy định trong khi thực hiện thủ tục tố tụng. Bạn có thể tham khảo rõ hơn ở Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.

Vì nguyên nhân trên nên bạn có thể thực hiện việc khiếu nại theo quy định tại Điều 469 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 như sau:

"Điều 469. Người có quyền khiếu nại

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cáo trạng hoặc quyết định truy tố, quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm, Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện nếu có khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị thì giải quyết theo quy định tại các chương XXI, XXII, XXIV, XXV, XXVI và XXXI của Bộ luật này."

Tuy nhiên, Điều 471 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

"Điều 471. Thời hiệu khiếu nại
1. Thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật.
2. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại."

Bạn có đưa ra thông tin là "đến nay đã được 1 năm rồi", vậy là đã hết thời hiệu khiếu nại theo quy định của Luật tố tụng hình sự.

Tuy nhiên, bạn có thể thực hiện việc tố cáo hành vi vi phạm trên theo Luật tố cáo 2018 như sau:

"Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

1. Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Thực hiện quyền tố cáo theo quy định của Luật này;
b) Được bảo đảm bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác;
c) Được thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo, kết luận nội dung tố cáo;
d) Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo chưa được giải quyết;
đ) Rút tố cáo;
e) Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo;
g) Được khen thưởng, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp thông tin cá nhân quy định tại Điều 23 của Luật này;
b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo;
d) Hợp tác với người giải quyết tố cáo khi có yêu cầu;
đ) Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra."

Điều 5 Luật tố cáo 2018 quy định:

"Điều 5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:
a) Tổ chức việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm an toàn cho người tố cáo; xử lý nghiêm minh người có hành vi vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình;
b) Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo khi chưa có kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo mà không tiếp nhận, không giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật, thiếu trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo hoặc giải quyết tố cáo trái pháp luật thì phải bị xử lý nghiêm minh; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật."

Bạn có thể căn cứ theo quy định trên để xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Điều 22 Luật tố cáo 2018 quy định:

"Điều 22. Hình thức tố cáo

Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền."

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162 . Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Giấy mời và giấy triệu tập của Công an khác nhau như thế nào theo quy định của Pháp Luật ?

3. Cơ quan điều tra vi phạm thủ tục tố tụng nào ?

Xin chào luật sư, mong luật sư tư vấn giúp tôi vấn đề sau: Ngi ngờ X cầm sổ ghi nợ của mình, khoảng 12h ngày 26-7-2011 G cùng Y đến nhà X đòi quyển sổ. Lúc này Y vào nói chuyện H( chồng X ), còn G lôi X ra thị trấn M và nói: con lừa đảo kia trả tao quyển sổ, X trả lời: Quyển sổ gì, tao không lấy. Hai bên giằng co, G lột hết quần áo chị X ném ra đường làm lộ toàn thân, mọi người xem đông chị X đứng dậy chạy lên vỉa hè, bà con chạy ra nhặt quần áo cho chị mặc.
Ngày 9h45 ngày 28-7-2011 X nhập viện với các thương tích: sốn mũi có vết bầm tím, vai phải có vết bầm tím , gối trái có vết sượt da chuẩn đoán đa chấn thương phần mềm đầu, vai và gối trái. Ngày 3-8-2011 X ổn định và ra viện và từ chối giám định tỉ lệ tổn hại sức khỏe. Quá trinh điều tra, H và X khai trong khi hai bên xô sát còn có L( cháu G) cùng tham gia với G lột quần áo X, còn Y chồng G ngăn cản không cho H can ngăn. Tuy nhiện, L và Y không thừa nhận hành vi của mình. Đối với G qúa trình điều tra không thừa nhận h ànhvi lột áo, tụt quần chị X mà chỉ dùng tay thục vào túi quần X để tìm quyển sổ hai bên giằng co, X bị ngã za đường đã dùng chân đạp G làm quần X bị tụt ra ngoài, cơ quan chưa làm rõ được mâu thuẫn. Bản kết luận 11-12-2011 của cơ quan điều tra huyện M đã kết luận vụ án chuyển toàn bộ hồ sơ đến viện kiểm sát huyện M đề nghị truy tố G về tội làm nhục người khác Điều 121 Bộ luật hình sự, đồng thời kết luận không đủ căn cứ chứng minh Y và L là đồng phạm đã tách để tiếp tục điều tra.
Hỏi, hoạt động cơ quan điều tra vi pham thủ tục tố tụng nào? giải thích và chỉ rõ căn cứ pháp lý? việc điều tra vi phạm nguyên tắc nào bộ luật tố tụng hình sự ?
Xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, cơ quan điều tra đã vi phạm nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án được quy định tại Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

"Điều 15. Xác định sự thật của vụ án

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội."

Như vậy, trong tình huống trên cơ quan điều tra chỉ lấy lời khai của các đương sự mà không hề lấy lời khai của nhân chứng, hay thực hiện các giám định để xác định sự thật của vụ án, cơ quan điều tra chưa chứng minh được có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và các tìn tiết khác của hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý, mục đích và động cơ phạm tội........

Thứ hai, vi phạm thủ tục về tách vụ án được quy định tại Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

"Điều 170. Nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra

1. Cơ quan điều tra có thể nhập để tiến hành điều tra theo thẩm quyền trong cùng một vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Bị can phạm nhiều tội;
b) Bị can phạm tội nhiều lần;
c) Nhiều bị can cùng thực hiện một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có.
2. Cơ quan điều tra chỉ được tách vụ án trong trường hợp cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.
3. Quyết định nhập hoặc tách vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định. Trường hợp không nhất trí với quyết định nhập hoặc tách vụ án của Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ và nêu rõ lý do."

Việc L và Y có phải đồng phạm hay không có ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án, hành động của L và Y không phải là hành động đơn lẻ mà là hành động kết hợp với G, như vậy theo quy định trên thì cơ quan điều tra không được tách hành vi của L và Y ra ngoài vụ án được.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bộ phiếu điều tra thông tin kinh tế kèm theo phiếu thu thập thông tin doanh nghiệp năm 2020

4. Tái điều tra vụ “ôm” tiền cổ đông chơi chứng khoán

Trên báo Pháp luật TP.HCM ngày 27-5-2009 đưa tin Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an tỉnh Đồng Nai (PC15) cho biết cơ quan này đang tái điều tra vụ “ôm” tiền của cổ đông chơi chứng khoán xảy ra tại Công ty cổ phần Mía đường La Ngà.

Theo báo Pháp luật TP.HCM, ngoài việc thu thập những tài liệu liên quan đến việc ông Phạm Như Hóa tự ý lấy hơn 17 tỷ đồng của cổ đông chơi chứng khoán, PC15 cũng đang tiến hành lấy lời khai một số người liên quan. Đầu năm 2008, ông Hóa (lúc đó là chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc công ty) đã dùng hơn 17 tỷ đồng chơi chứng khoán mà không thông qua HĐQT công ty. Vụ việc vỡ lở, ông Hóa xin từ chức. HĐQT công ty yêu cầu đến 31-12-2008, ông Hóa phải thanh lý hết chứng khoán để trả vốn cho công ty. Đến nay đã quá hạn nhưng hậu quả khắc phục vẫn chưa xong khiến công ty lỗ trên 14 tỷ đồng nếu so với giá chứng khoán.

Về vấn đề này, trước đây (ngày 1-5-2008), trang trên web haimat.vn (của công ty luật hợp danh Ecolaw) đã có bài viết của luật sư Trần Hồng Phong, phân tích pháp lý về vấn đề này.

Xét thấy sự việc vẫn còn nguyên tính thời sự và pháp lý, nay Ecolaw.vn xin giới thiệu đến Quí vị bài biết này.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

--------------------------------------------------------
Công ty Mía đường La Ngà quản lý tiền bạc như đùa


Tin về việc công ty Mía đường La Ngà vỡ nợ vì bị ông Phạm Như Hóa - Chủ tịch Hội đồng quản trị tự ý lấy 16,8 tỷ đồng tiền mặt của công ty đem “chơi” chứng khoán cá nhân đã gây sự chú ý trong giới doanh nhân mấy ngày qua.
Sau đây là ý kiến bình luận của luật sư Trần Hồng Phong, công ty luật hợp danh Ecolaw về vụ việc này.
Thủ quĩ, kế toán trưởng cũng phải chịu trách nhiệm

Trước hết, tôi thấy việc quản lý tiền bạc ở công ty quá bất thường, bộc lộ nhiều kẽ hở đến mức không thể tin được. Tiền là tài sản quan trọng, công ty nào cũng phải có thủ quĩ, két sắt. Chi ra thì phải có lý do, được giám đốc, kế toán trưởng duyệt… đó là điều mà không cần rành luật hiển nhiên ai cũng biết.

Như vậy, việc ông Hóa lấy ra tới 16,8 tỷ đồng chắc chắn không thể nói đơn giản là ông ta một mình “tự ý” lấy. Trong việc này chắc chắn phải có sự câu kết, tiếp tay của thủ quĩ, kế toán trưởng và thậm chí của cả ai đó trong Ban giám đốc công ty. Do vậy, chắc chắn những người này cũng phải chịu trách nhiệm vì đã để “mất tiền” – cho dù thực chất có thể họ không được ông Hóa chia chác gì. Tiền tỷ của công mà lấy ra dễ dàng cứ như giấy lộn trong túi. Thật là chuyện như đùa.

Có dấu hiệu phạm tội

Nếu đúng sự việc như báo chí nêu thì tôi cho rằng hậu quả đã xảy ra, thậm chí ở mức độ rất nghiêm trọng. Tôi cho rằng công ty hiện đã mất đi một số tiền mặt 16,8 tỷ đồng. Cho dù sau này ông Hóa có khắc phục, trả lại toàn bộ đi nữa thì cũng vẫn bị xem xét, xử lý về mặt pháp luật.
Căn cứ theo qui định tại Bộ luật hình sự, tôi cho rằng hành vi lấy tiền như vậy có dấu hiệu phạm tội. Cụ thể là có dấu hiệu của 2 tội sau đây:

Thứ nhất : “Tội cố ý làm trái qui định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” – thuộc nhóm các tội “xâm phạm trật tự quản lý kinh tế”. Đặc tính của tội danh này là tài sản bị thất thoát thường là của Nhà nước, là tài sản chung. Chủ thể (người thực hiện hành vi phạm tội) phải là người ở chức vụ quản lý. Ở đây, ông Hóa là Chủ tịch HĐQT tức là chức vụ quản lý, công ty Mía đường La Ngà là công ty cổ phần có vốn của Nhà nước, nên có thể bị xem xét truy tố về tội danh này.

Thứ hai : Nếu xét về khía cạnh sở hữu tài sản, hành vi của ông Hóa cũng có thể có dấu hiệu của “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đặc tính của tội lừa đảo là người chiếm đoạt phải có dấu hiệu “dùng thủ đoạn gian dối”. Rất có thể để lấy tiền, ông Hóa đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình hoặc nhân danh công ty để tác động vào thủ quĩ, kế toán trưởng … để những người này giao tiền cho ông ta.

Ngoài ra, có thể có người cho rằng hành vi của ông Hóa có dấu hiệu của “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tuy nhiên tôi không đồng ý, vì dấu hiệu đặc trưng của tội danh này là người phạm tội phải dùng thủ đoạn “vay”, ”mượn” hay “thuê” tài sản của người khác rồi chiếm đoạt. Việc ông Hóa lấy được tiền ra ngoài có thể xem như đã hoàn tất việc chiếm đoạt. Tuy nhiên, nếu quả thật ông Hóa có viết giấy vay, mượn … với ai đó trong công ty thì những giấy tờ này cũng không có giá trị. Bởi việc công ty cho vay hay cho mượn tới 16,8 tỷ đồng là rất lớn, phải thông qua Hội đồng quản trị, không ai có thể đơn phương tự ý làm việc đó được.

Cần gửi đơn tố cáo đến cơ quan công an

Tất nhiên, những phân tích trên chỉ là giả thuyết. Việc ông Hóa có bị khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự hay không cần phải được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xác minh. Tuy nhiên, tôi cho rằng việc các cổ đông hiện nay mới chỉ “ký đơn tập thể gửi Bộ NN&PTNT, Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng, Bộ Tài chính…” là chưa đúng nơi đúng chỗ. Vì đây chỉ là những cơ quan hành chính. Theo tôi các cổ đông cần gửi đơn tố cáo tới cơ quan công an. Cụ thể là công an tỉnh Đồng Nai.

Về mặt dân sự, việc thất thoát tiền bạc ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông trong công ty. Như vậy, đây có thể xem là “tranh chấp” trong nội bộ công ty, có dấu hiệu đặc trưng của một vụ án kinh tế, quá trình giải quyết sẽ liên quan đến Điều lệ công ty, luật Doanh nghiệp … Trước mắt công ty chắc phải sớm tiến hành họp đại hội cổ đông để đánh giá tình hình và đưa ra hướng giải quyết đối với các tình huống có thể xảy ra. Vì công ty chắc chắn phải có quan hệ làm ăn với các đối tác, ký kết hợp đồng … nếu không có hướng giải quyết thì thiệt hại càng lớn, hậu quả càng khó khắc phục.

Vụ việc này có lẽ cũng là một hồi chuông cảnh báo tới các doanh nghiệp - nhất là các công ty cổ phần. Trên thực tế dù số lượng cổ đông nhiều, nhưng sự giám sát tại các công ty cổ phần thường thiếu chặt chẽ, sơ sài. Rất nhiều cổ đông không nắm rõ tình hình kinh doanh của công ty, không biết quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định tại Luật doanh nghiệp. Trên thực tế, có không ít trường hợp các cổ đông “cá mập” đã trục lợi từ tài sản của công ty.

------------------------------------------------------------------------
Công ty Mía đường La Ngà vỡ nợ vì Chủ tịch HĐQT chơi chứng khoán

Ngày 29-4, các cổ đông Công ty cổ phần Mía đường La Ngà (xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) đã ký đơn tập thể gửi Bộ NN&PTNT, Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng, Bộ Tài chính... để phản ảnh việc làm trái nguyên tắc của ông Phạm Như Hóa - chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) công ty.

Các cổ đông cho biết với tư cách chủ tịch HĐQT, ông Hóa đã ôm 16,84 tỉ đồng vốn của công ty để... chơi chứng khoán, nhưng chẳng may bị thua lỗ nên ông Hóa xin được "khất nợ" đến cuối năm 2008. Mặc dù thời hạn đại hội cổ đông thường niên 2008 đã tới, nhưng vì ông chủ tịch HĐQT "vướng" vào vụ này nên phải tạm hoãn.

Vụ việc vỡ lở vào ngày 9-4, khi công ty này gửi thư mời các cổ đông dự đại hội cổ đông thường niên 2008 (dự kiến ngày 22-4), nhưng vài ngày sau ông Phạm Như Hóa ra thông báo tạm hoãn đại hội. Nhiều cổ đông đã yêu cầu công ty giải thích song không thỏa đáng. Cuối cùng họ mới té ngửa khi biết đại hội tạm hoãn vì ông Hóa tự động lấy tiền của công ty trái nguyên tắc để chơi cổ phiếu và bị thua lỗ nhưng chưa khắc phục được. Ngày 18-4 HĐQT công ty đã tổ chức cuộc họp bất thường để nghe ông Hóa thừa nhận đã dùng số tiền trên mua một số cổ phiếu dưới danh nghĩa cá nhân. Ông Lê Tài Anh, kế toán trưởng công ty, thừa nhận việc ông Hóa dùng tiền của công ty chơi chứng khoán mà không báo cáo HĐQT và cổ đông là sai.

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Phiếu điều tra thông tin doanh nghiệp 2018 - Phiếu 1A/ĐTDN-DN

5. Sử dụng hung khí đánh người gây thương tích bị phạt thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ngày mùng 2 tết cháu của tôi do uống rượu nên có xung đột với thanh niên hàng xóm đã dùng dao chém vào khửu tay trái người khác phải khâu đến 16 mũi gây đứt mạch máu nhỏ hiện nay đang nằm viện, bên bị hại yêu cầu phải bồi thường bằng tiền mặt là 40 triệu đồng. vậy xin được tư vấn theo quy định của luật mức bồi thường đó có hợp lý không ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo điểm a khoản 4 Điều 5 Nghị định 167/2015/NĐ-CP

"Điều 5: Vi phạm quy định về trật tự công cộng:

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ;"

Như vậy, việc sử dụng vũ khí thô sơ gây mất trật tự công cộng sẽ bị xử phạt hành chính từ 3.000.000đ đến 5.000.000đ. Do thông tin anh cung cấp chưa được cụ thể về tỷ lệ thương tật của nạn nhân, do vậy nếu tỷ lệ thương tật từ 11% đến dưới 30% sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mức hình phạt là cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáng tháng đến ba năm.

"Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác41
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
......"

Do vậy, việc người nhà của người bị hại yêu cầu bồi thường tiền mặt là không có căn cứ cụ thể cho hành vi cố ý gây thương tích cho người khác và gây rối trật tự công cộng có sử dụng vũ khí thô sơ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Rất mong sự hợp tác

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền yêu cầu cung cấp thông tin ?