1. Thời hạn giải quyết đơn tố giác tại cơ quan điều tra ?

Kính chào luật sư, mong luật sư tư vấn giúp tôi về thời hạn giải quyết đơn tố giác tại cơ quan điều tra và những quyền của người tố cáo, hiện nay tôi đang có chút vấn đề liên quan nên mong luật sư tư vấn giúp ?
Tôi xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi:1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định về tố tụng hình sự thì khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra được giao nhiệm vụ trong thời hạn 20 ngày phải tiến hành kiểm tra, xác minh và ra một trong những quyết định như: Khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn trên không được kéo dài quá 02 tháng. Nếu cần gia hạn thì Chậm nhất là 05 ngày trước khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

"Điều 147. Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:

a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự;

b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định tại khoản này thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng.

Chậm nhất là 05 ngày trước khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh quy định tại khoản này, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh.

3. Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động:

a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin;

b) Khám nghiệm hiện trường;

c) Khám nghiệm tử thi;

d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản.

4. Trình tự, thủ tục, thời hạn Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều này."

Như vậy đối với một vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết không kéo dài quá 02 tháng trừ trường hợp có xin gia hạn kiểm tra, xác minh và được viện kiểm sát chấp thuận bằng văn bản.

Trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thì người tố giác có một số quyền sau: giữ bí mất, được thông báo kết quả giải quyết, được khiếu nại quyết định hay hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận, giải quyết vụ việc (Quy định tại Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

"Điều 56. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm; cơ quan, tổ chức đã báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố có quyền:

a) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa;

b) Được thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, trình bày trung thực về những tình tiết mà mình biết về sự việc.

>> Xem thêm:  Quyền công dân trong quá trình điều tra vụ án hình sự là gì ? Cơ quan điều tra có nghĩa vụ, trách nhiệm gì ?

2. Mối quan hệ giữa luật sư và cơ quan điều tra ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi như sau: Mối quan hệ giữa luật sư và cơ quan điều tra là gì? Xin cảm ơn Luật sư!
Người gửi: dinhco

Trả lời:

Cơ quan điều tra tham gia hoạt động tố tụng với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng theo Khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 như sau:

1. Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có:

a) Cơ quan điều tra;

b) Viện kiểm sát;

c) Toà án.

Luật sư tham gia hoạt động tố tụng với tư cách là người bào chữa theo Đều 72 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

"1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.

2. Người bào chữa có thể là:

a) Luật sư;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý."

Như vậy ta có thể xác định mối quan hệ giữa Luật sư và Cơ quan Điều tra

2.1. Luật sư gặp gỡ cơ quan điều tra để làm thủ tục tham gia vào hoạt động điều tra

Để có thể tham gia vào hoạt động điều tra để bảo vệ cho khách hàng của mình thì Luật sư phải chuẩn bị các giấy tờ như sau:

- Giấy giới thiệu.

- Giấy phân công của văn phòng.

- Thẻ Luật sư.

- Hợp đồng giữa văn phòng Luật sư với đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo.

Các yêu cầu khác của cơ quan điều tra:

Sau khi chuẩn bị các giấy tờ trên thì Luật sư gặp cơ quan điều tra để đề nghị được tham gia vào hoạt động điều tra. Nếu cơ quan điều tra chấp thuận sẽ cấp cho Luật sư giấy chứng nhận bào chữa.

Trên thực tế, để gặp được cơ quan điều tra không phải là dễ dàng, vì những lý do khách quan và chủ quan khác nhau. Do đó đòi hỏi Luật sư phải kiên trì, không nóng vội.

2.2. Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Trong giai đoạn này, Luật sư có các quyền được quy định tại Khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

1. Người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

i) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

l) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.

Sự có mặt của Luật sư góp phần làm hạn chê sự làm trái pháp luật của cơ quan điều tra trong việc bắt giam, lấy lời khai... bị can, đồng thời tạo điều kiện để Luật sư hiểu và nắm bắt nội dung vụ án ngay từ đầu; giúp công tác điều tra, tuy tố, xét xử vụ án được nhanh chóng và khách quan.

Quy định này giúp Luật sư có thể tiếp nhận thêm một số tình tiết, giúp nhận thức vụ án được khách quan hơn. Bên cạnh đó, Luật sư có quyền có mặt trong các giai đoạn điều tra khác như khám nghiệm hiện trường, chỗ ở, địa điểm phạm tội... nhằm thu thập và hoàn thiện chứng cứ.

Thực tế, trong các giai đoạn này, nhiều khi điều tra viên không cho phép Luật sư hỏi bị can. Để làm được điều này, Luật sư cần phải tế nhị và khéo léo, cần có thiện cảm và tạo mối quan hệ tốt với cơ quan điều tra.

Khi đọc hồ sơ vụ án, Luật sư cần chú ý xem bản kết luận điều tra nêu hành vi phạm tội có đúng không, các chứng cứ cơ quan điều tra chứng minh tội phạm có đảm bảo khách quan không? Từ đó, Luật sư đề xuất những yêu cầu cần thiết với Viện kiểm sát, Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bị can.

Tùy từng tình tiết và diễn biến vụ án mà Luật sư có thể đưa ra các yêu cầu sau với cơ quan điều tra:

- Đề nghị lấy lời khai của người làm chứng.

- Đề nghị bổ sung người làm chứng và lấy lời khai của họ.

- Tiến hành đối chất.

- Tiến hành nhận dạng.

- Thu giữ vật chứng.

- Thực hiện điều tra.

- Trưng cầu giám định, bổ sung giám định hoặc giám định lại.

- Đưa các tài liệu và đồ vật có liên quan đến vụ án để bảo vệ thân chủ.

Trước khi kết thúc giai đoạn điều tra, cần đề xuất hướng giải quyết với cơ quan điều tra:

- Đề xuất bằng văn bản, chỉ rõ cơ sở, căn cứ lập luận của mình.

- Đề xuất tách nhập vụ án.

- Đề xuất theo hướng đủ chứng cứ hay không đủ chứng cứ.

- Đề xuất đình chỉ vụ án.

Tóm lại, mối quan hệ giữa Luật sư và cơ quan điều tra nói riêng, giữa Luật sư và cơ quan tiến hành tố tụng nói chung là mối quan hệ giữa đồng nghiệp trong công tác pháp luật; bình đẳng, tôn trọng vì công lý; ngoài ra còn là mối quan hệ phụ thuộc và tương hỗ lẫn nhau.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn trình báo công an mới nhất năm 2020, Cách viết đơn trình báo

3. Có được sinh hoạt Đảng khi đang trong quá trình điều tra ?

Kính gửi luật sư công ty Luật Minh Khuê. Tôi là một giáo viên - Đảng viên gương mẫu nhiệt tình nhưng bị họ tố cáo là đối tượng hiếp dâm con họ hai lần (con họ khai). Tôi khẳng định không hiếp dâm con họ. Gia đình họ nói là có nhân chứng, tài liệu đầy đủ....Nhân chứng đó theo tôi được biết chính là người yêu của con họ.
Hiện nay cơ quan chức năng tỉnh đã điều tra, dựng lại hiện trường được 4 tháng nhưng chưa có kết luận gì? Bản thân tôi vẫn công tác bình thường, đến nay bản thân tôi và ngành chưa nhận được bất cứ thông báo hay quyết định nào của cơ quan chức năng. Vậy xin hỏi luật sư bản thân tôi có được sinh hoạt Đảng và chuyển sinh hoạt Đảng hay không? Thời gian điều tra là bao nhiêu?
Xin chân thành cảm ơn luật sư.

Mối quan hệ giữa luật sư và cơ quan điều tra?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trả lời

Căn cứ vào khoản 1.3 Điều 30 Quyết định 46-QĐ/TW năm 2011 hướng dẫn thực hiện quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và VIII Điều lệ Đảng khóa XI do Ban Chấp hành Trung ương ban hành quy định:

"1.3- Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng

- Chấp hành nghiêm chỉnh Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát, các quyết định, kết luận, yêu cầu của chủ thể kiểm tra, giám sát; tham dự đầy đủ các cuộc họp, buổi làm việc được triệu tập; báo cáo, giải trình đầy đủ, trung thực về các nội dung được yêu cầu; không để lộ bí mật nội dung kiểm tra, giám sát cho tổ chức, cá nhân không có trách nhiệm biết.

- Được sử dụng bằng chứng về các nội dung kiểm tra, giám sát; được bảo lưu ý kiến, đề nghị, phản ánh, báo cáo với tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét lại nhận xét, đánh giá, kết luận, quyết định đối với mình hoặc xem xét lại việc kiểm tra, giám sát không đúng nội dung, yêu cầu, trách nhiệm của cấp kiểm tra, giám sát."

Nên hiện nay bạn đang trong quá trình điều tra, giám sát nên vẫn tham gia sinh hoạt bình thường.

Thời hạn điều tra được quy định tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, cụ thể như sau

Điều 172. Thời hạn điều tra

1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

4. Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

5. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.

6. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Hiện nay bạn đang à đối tượng bị điều tra với tội hiếp dâm nên thời gian có thể từ là 3 tháng (chưa gia hạn).

Bạn có thể tham khảo về việc xử lí kỉ luật Đảng viên vi phạm theo Quyết định 181-QĐ/TW năm 2013 xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm do Ban Chấp hành Trung ương ban hành.

>> Xem thêm:  Tư vấn quản trị tài chính cho doanh nghiệp

4. Thời hạn điều tra trong vụ án hình sự quy định như thế nào ?

Kính chào luật sư! Xin luật sư cho tôi biết thời hạn điều tra của tội trộm cắp tài sản là bao nhiêu tháng. Tôi xin trình bày cụ thể nội dung sự việc mong luật sư tư vấn giúp tôi như sau: Tôi bị mất một con trâu giá trị khoảng 20 triệu. Tôi làm đơn trình báo cơ quan công an và nhận được thông báo là đã khởi tố vụ án. Nhưng từ ngày đấy đến giờ đã hơn 01 tháng nhưng chưa có thêm thông tin gì. Rất mong luật sư tư vấn giúp tôi là công an họ điều tra bao lâu ?
Trân trọng cảm ơn luật sư!

Thời hạn điều tra trong vụ án hình sự được quy định như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Để trả lời câu hỏi của bạn trước hết cần làm rõ nội dung về tội trộm cắp tại sản theo quy định của pháp luật hình sự. Căn cứ Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội trộm cắp tài sản thì tội trộm cắp tài sản với giá trị khoảng 20 triệu đồng thì sẽ bị xử lý theo Khoản 1 điều này với mức hình phạt cao nhất là 03 năm tù.

"Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại."

Vậy nên đối với hình phạt cao nhất 03 năm tù thì đây là tội ít nghiêm trọng, căn cứ theo Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thì tội ít nghiêm trọng sẽ có thời hạn điều tra là 02 tháng và có thể gia hạn điều tra 01 lần nhưng không quá 02 tháng.

Cũng tại điều này quy định cụ thể về thời hạn điều tra đối với các tội phạm như sau:

+ Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

+ Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

- Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;

- Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;

- Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

+ Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng. Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

Từ đấy có thể kết luận được rằng thời hạn điều tra kể từ khi khởi tố vụ án hình sự đối với tội trộm cắp trâu của bạn sẽ là 02 tháng nhưng nay mới hơn một tháng, vậy nên bạn phải đợi cơ quan công an điều tra làm rõ tình tiết vụ án trong một thời gian là gần 01 tháng nữa. Trong trường hợp hết 02 tháng mà cơ quan công an điều tra chưa làm rõ được vụ án thì có thể gia hạn thêm 02 tháng với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Chính vì vậy thời gian điều tra có thể kéo dài thêm hơn 02 tháng nữa là tổng số thời gian mà bạn phải chờ kết quả của cơ quan công an điều tra. Nếu hết thời gian điều tra như luật định mà cơ quan công an điều tra chưa có kết quả thì sẽ ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự.

>> Xem thêm:  Luật sư không được ( bị cấm) chào mời dịch vụ pháp lý trong dự thảo nghị định hướng dẫn luật luật sư ?

5. Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự ?

Thưa Luật sư: Trên một chuyến bay từ Hà Nội vào Tp Hồ Chí Minh, sau khi chuyến bay cất cánh thì trên máy bay xảy ra sự việc đối tượng A giết một người trên máy bay do mâu thuẫn, sau đó đối tượng A bị nhân viên trên máy bay cùng mọi người bắt giữ. Chuyến bay hạ cánh xuống Tp HCM thì đối tượng A được giao cho an ninh sân bay. Hỏi cơ quan cảnh sát điều tra nào sẽ điều tra ?
Xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2006; Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 quy định:

Điều 11. Thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân

1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân.

2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại khoản 1 Điều này khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Điều 268 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 có quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp, cụ thể như sau:

Điều 268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án

1. Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm:

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật hình sự;

d) Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:

a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực;

b) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài;

c) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.

Điều 269. Thẩm quyền theo lãnh thổ

1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

2. Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hoặc Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.

Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về tội giết người, cụ thể như sau:

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp này, Tòa án thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, suy ra, cơ quan điều tra theo quy định của pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, thì cơ quan điều tra: cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền điều tra.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Các trường hợp được tố cáo tội phạm và gửi đơn tố cáo đến đâu ?