1. Quy định giới hạn số giờ làm thêm của người lao động

Theo quy định của Điều 60 trong Nghị định 145/2020/NĐ-CP về việc làm thêm giờ, các điều sau đây được áp dụng:

- Tổng số giờ làm thêm không vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong một ngày làm việc thông thường, trừ trường hợp được quy định tại (2) và (3) mục 1. Nói cách khác, nếu một ngày làm việc thông thường có thời gian làm việc bình thường là 8 giờ, thì tổng số giờ làm thêm không được vượt quá 50% của 8 giờ, tức là không được làm thêm quá 4 giờ, trừ các quy định đặc biệt tại mục (2) và (3).

- Khi áp dụng thời gian làm việc bình thường theo tuần, tổng số giờ làm việc bình thường và giờ làm thêm không vượt quá 12 giờ trong một ngày. Nói cách khác, nếu một ngày làm việc thông thường có thời gian làm việc bình thường là 8 giờ, thì bạn chỉ được làm thêm tối đa 4 giờ trong ngày đó để tổng cộng không quá 12 giờ. Quy định này nhằm bảo đảm sức khỏe và sự an toàn của người lao động, giới hạn số giờ làm việc trong một ngày để tránh quá tải công việc.

- Trong trường hợp làm việc không toàn thời gian theo quy định tại Điều 32 của Bộ luật Lao động năm 2019, tổng số giờ làm việc bình thường và giờ làm thêm không vượt quá 12 giờ trong một ngày. Điều này đảm bảo rằng người lao động làm việc không toàn thời gian cũng được bảo vệ về mặt thời gian làm việc, và không bị áp đặt một lượng công việc quá tải vào một ngày làm việc. Quy định này cũng nhấn mạnh vai trò của việc duy trì sức khỏe và cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân của người lao động.

- Tổng số giờ làm thêm không vượt quá 12 giờ trong một ngày, khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hàng tuần. Điều này nhấn mạnh việc giới hạn thời gian làm thêm vào các ngày nghỉ, nhằm đảm bảo sức khỏe và sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân của người lao động. Bằng cách này, quy định này giúp người lao động có thời gian để nghỉ ngơi và thư giãn vào những dịp nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hàng tuần.

- Thời gian làm việc quy định tại các khoản 1 của Điều 58 trong Nghị định 145/2020/NĐ-CP được trừ đi khi tính tổng số giờ làm thêm trong tháng, trong năm để xác định việc tuân thủ các quy định tại điểm b, điểm c của khoản 2 của Điều 107 của Bộ luật Lao động 2019 như sau:

+ Đảm bảo số giờ làm thêm của người lao động không vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong một ngày; trong trường hợp áp dụng thời gian làm việc bình thường theo tuần, tổng số giờ làm việc bình thường và giờ làm thêm không vượt quá 12 giờ trong một ngày; không vượt quá 40 giờ trong một tháng;

+ Đảm bảo số giờ làm thêm của người lao động không vượt quá 200 giờ trong một năm, trừ trường hợp người sử dụng lao động được phép sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong một năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc các trường hợp sau đây: Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản; Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước; Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung cấp đầy đủ, kịp thời; Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không thể dự báo trước, do hậu quả của thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất; Trường hợp khác do Chính phủ quy định.

2. Trường hợp được phép tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ/năm

Các trường hợp được tổ chức làm thêm từ 200 giờ đến 300 giờ trong 01 năm theo quy định của Điều 61 trong Nghị định 145/2020/NĐ-CP bao gồm:

- Các trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn phát sinh từ các yếu tố khách quan liên quan trực tiếp đến hoạt động công vụ trong các cơ quan, đơn vị nhà nước, trừ các trường hợp được quy định tại Điều 108 của Bộ luật Lao động, bao gồm:

+ Thực hiện lệnh động viên, huy động để bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện các lệnh động viên, huy động trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh thường được điều chỉnh và hướng dẫn cụ thể bởi các cơ quan có thẩm quyền, và đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt từ phía nhân viên và người lao động. Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của việc bảo vệ an ninh quốc gia và đảm bảo sự an toàn cho cộng đồng.

+ Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc phòng ngừa, khắc phục hậu quả của thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

- Cung cấp dịch vụ công; dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; dịch vụ giáo dục, đào tạo nghề nghiệp. Cung cấp dịch vụ công bao gồm các hoạt động như cung cấp thông tin, tư vấn, giải quyết thủ tục hành chính, v.v. trong các cơ quan, tổ chức công quyền. Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bao gồm hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế cộng đồng,... Cần phải có đủ nhân lực để phục vụ các nhu cầu y tế của cộng đồng, đặc biệt là trong các tình huống khẩn cấp hoặc tăng cường. Dịch vụ giáo dục, đào tạo nghề nghiệp bao gồm các hoạt động của các cơ sở giáo dục và đào tạo, bao gồm trường học, trung tâm đào tạo nghề, trường đại học, v.v. Cần có đủ giáo viên, nhân viên để đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo cho học sinh, sinh viên và người học.

- Công việc trực tiếp liên quan đến sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp thực hiện thời gian làm việc bình thường không quá 44 giờ trong một tuần. Điều này áp dụng cho các công việc mà thời gian làm việc bình thường không đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, và việc làm thêm là cần thiết để đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện hiệu quả.

3. Thông báo tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm

Thông báo về việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm theo quy định của Điều 62 trong Nghị định 145/2020/NĐ-CP và khoản 3 của Điều 49 trong Nghị định 10/2024/NĐ-CP như sau:

- Khi tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm, người sử dụng lao động cần thông báo cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại các địa điểm sau:

+ Địa điểm tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm;

+ Địa chỉ trụ sở chính, nếu trụ sở chính đặt tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với địa điểm tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.

- Thời điểm thông báo phải được thực hiện không muộn hơn 15 ngày kể từ ngày bắt đầu thực hiện làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.

- Văn bản thông báo phải tuân thủ Mẫu số 02/PLIV được ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Trong trường hợp người sử dụng lao động đặt trụ sở chính hoặc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm tại khu công nghệ cao, cần thông báo cho Ban quản lý khu công nghệ cao về việc tổ chức làm thêm theo thời gian và biểu mẫu quy định tại khoản 2 và khoản 3 của quy định này.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Lương làm thêm giờ là gì ? Lương làm thêm giờ được tính như thế nào ?

Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!