1.Thư tín dụng dự phòng

 Thư tín dụng dự phòng giống như thư tín dụng thông thường ở chỗ nó được phát hành bởi một ngân hàng, gắn với cam kết thanh toán cho bên thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận hối phiếu được kí phát bởi bên thứ ba này, với điều kiện người thụ hưởng xuất trình được các chứng từ phù hợp. Tuy nhiên, nếu như thư tín dụng là cơ chế thanh toán chính trong việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán được nêu trong hợp đồng cơ sở (nói khác đi, ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận là nơi đầu tiên thực hiện việc trả tiền), thì thư tín dụng dự phòng được lập ra như là biện pháp bảo đảm với mục đích là việc rút tiền chỉ được thực hiện khi bên thực hiện công việc, hoặc cung ứng hàng hoá, dịch vụ không hoàn thành việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đối với người thụ hưởng. Trách nhiệm của ngân hàng trong thư tín dụng dự phòng được dự kiến là trách nhiệm thứ cấp, đứng sau bên chịu trách nhiệm chính (mặc dù, về mặt kĩ thuật, mẫu thư tín dụng dự phòng có thể khiến ngân hàng có vẻ như là bên chịu trách nhiệm chính), và thư tín dụng dự phòng thực hiện chức năng bảo đảm như một ngân hàng làm nhiệm vụ bảo lãnh. Tuy nhiên, khác với trường hợp bảo lãnh, thư tín dụng dự phòng có thể được sử dụng bằng cách đệ trình các chứng từ đã được xác định mà bên thụ hưởng không phải chứng minh sự vi phạm hợp đồng từ bên chịu trách nhiệm chính, ví dụ: chứng từ đã được xác định có thể chỉ đơn giản là yêu cầu hoặc lời khai của người thụ hưởng rằng bên có trách nhiệm chính đã vi phạm hợp đồng. Thư tín dụng dự phòng được UCP điều chỉnh, do đó nói chung là nguyên tắc về tính độc lập của thư tín dụng cũng được áp dụng cho thư tín dụng dự phòng. Tuy nhiên, do UCP bị đánh giá là không phù hợp với bản chất bảo đảm của thư tín dụng dự phòng, nên ICC đã cộng tác với Viện Luật và thực tiễn ngân hàng quốc tế (Institute of International Banking Law and Practice) cho ra đời Quy tắc về thực hành thư tín dụng dự phòng quốc tế (Rules on International Standby Credit Practices) (Ấn phẩm của ICC, số 590) (viết tắt là ‘ISP 98’), có hiệu lực từ ngày 1/1/1999. Thư tín dụng dự phòng có thể được coi là thuộc phạm vi điều chỉnh của UCP hoặc của Quy tắc nêu trên, tùy thuộc vào ý chí của các bên.

Trong một số trường hợp kinh doanh, L/C đã được mở, người XK đã nhận được tiền đặt cọc hoặc tiền ứng trước của người NK, nhưng lại không thể hoặc cố tình không thực hiện nghĩa vụ giao hàng. Khi đó rủi ro thuộc về người NK (tốn phí mở L/C, mất tiền đặt cọc…). Để đảm bảo quyền lợi cho người nhập khẩu tránh trường hợp này, người NK yêu cầu người XK hãy mở một L/C dự phòng tại ngân hàng Thông Báo. Tức L/C dự phòng này được mở bởi ngân hàng Thông báo (ngân hàng của người XK). Trong đó, L/C này cam kết Ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng (tức ngân hàng của người XK) sẽ thanh toán tiền đền bù thiệt hại (tiền đặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở L/C, thậm chí là những thiệt hại do khoản tiền phạt mà đối tác của người NK đã phạt họ) cho người NK nếu người XK không đảm bảo nghĩa vụ giao hàng theo Thư tín dụng ban đầu. Do đó, sự khác nhau cơ bản của L/C thương mại (ban đầu) và L/C dự phòng là L/C Thương mại được mở bởi ngân hàng Mở, còn L/C dự phòng được mở bởi Ngân hàng Thông báo. L/C thương mại bảo vệ lợi ích của người XK khi người NK không có khả năng thanh toán, ngược lại, L/C dự phòng đảm bảo lợi ích cho người NK trong trường hợp người XK không thực hiện nghĩa vụ giao hàng. Tuy nhiên, có thể hiểu nôm na, L/C dự phòng chỉ là ‘hình bóng’ của L/C thương mại ban đầu. Tức là, chỉ khi nào người XK vi phạm nghĩa vụ giao hàng/không giao hàng, thì L/C dự phòng mới có giá trị thực hiện. Ngược lại, nếu không có sự vi phạm của người XK, L/C dự phòng sẽ không được thực hiện.

2.Sự khác nhau về L/C thương mại và L/C dự phòng

L/C thương mại hoạt động trên cơ sở thực hiện hợp đồng của người bán
L/C dự phòng đảm bảo cho người thụ hưởng trong trường hợp nghĩa vụ của người phát hành LC không được thực hiện.

Sự khác biệt giữa L/C thương mại và L/C dự phòng

Chỉ tiêu L/C thương mại L/C dự phòng
Mục đích sử dụng
  • Là phương tiện thanh toán
  • Là công cụ bảo lãnh
Phạm vi sử dụng
  • Hợp đồng thương mại hàng hóa (dịch vụ)
  • Lĩnh vực tài chính, tín dụng, thương mại, xây dựng, thuế vụ, hải quan, thầy khoán,…
Cơ sở thực hiện cam kết thanh toán của ngân hàng
  • Khi người hưởng lợi thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng cơ sở 
  • Khi người xin mở L/C không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng
Chứng từ xuất trình
  • Lập bộ chứng từ sau khi tiến hành giao hàng
  • Thể hiện việc chuyển giao hàng hóa trên cơ sở hợp đồng thương mại (hối phiếu đòi tiền, hóa đơn, chứng từ vận tải, đóng gói,…)
  • Lập bộ chứng từ nếu người xin mở không thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng cơ sở
  • Mang tính chất chủ quan. Chỉ là sự tuyên bố hay chứng minh thể hiện sự vi phạm hợp đồng của người xin mở L/C
Cơ sở pháp lý của giao dịch
  • UCP 600
  • UCP 600
  • ISP 98
  • UNCITRAL 1995 

 

3. Phân loại L/C dự phòng ( kind of Stand By L/C)

 

Tùy vào nhu cầu mở L/C bảo vệ quyền lợi cho bên bán hay bên mua mà ngân hàng sẽ đề xuất cho doanh nghiệp nhiều loại hình L/C khác nhau:

L/C dự phòng đảm bảo thực hiện: đảm bảo nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của người xin mở L/C trong đó kèm theo cả trách nhiệm bồi thường trong trường hợp xảy ra vi phạm. Lĩnh vực áp dụng:  hợp đồng thương mại, đầu tư, xây dựng,…

L/C dự phòng cho khoản ứng trước

L/C dự phòng đảm bảo dự thầu: là cam kết của ngân hàng sẽ thanh toán một khoản tiền cho người hưởng lợi trong trường hợp người xin mở L/C trúng thầu nhưng rút lui không thực hiện. Thời của L/C được tính tới thời điểm người dự thầu trúng thầu và ký kết hợp đồng thương mại.

L/C dự phòng đối ứng

L/C dự phòng tài chính: bảo lãnh trách nhiệm trả tiền cho một khoản tiền đã vay. Giá trị L/C có thể lên đến 100% giá trị hợp đồng cơ sở

L/C dự phòng trả tiền trực tiếp: đảm bảo thanh toán khi đến hạn theo quy định của hợp đồng cơ sở; không quan tâm có xảy ra vi phạm hay không; không còn mang tính chất dự phòng nữa mà chắc chắn được thực hiện; chưa có hình thức bảo lãnh tương ứng.

L/C dự phòng bảo hiểm: là cam kết của ngân hàng phát hành sẽ thanh toán khoản phí bảo hiểm nếu người yêu cầu mở thư tín dụng dự phòng không nộp phí bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm đúng hạn.

L/C dự phòng thương mại: bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán của người xin mở L/C dự phòng trong trường hợp không thanh toán bằng các hình thức thanh toán khác. 

4. Vai trò của L/C dự phòng trong thanh toán quốc tế 

  1. Vai trò đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong thanh toán quốc tế
  • Trường hợp dùng để làm bảo lãnh: chứng từ chứng minh vi phạm nếu các bên liên quan cần cung cấp thông tin 
  • L/C dự phòng: chứng từ chứng minh vi phạm do người thụ hưởng tự lập
  1. Vai trò như một công cụ tài trợ trong thanh toán quốc tế 
  • L/C dự phòng đảm bảo tiền ứng trước: khoản tín dụng thương mại cấp cho người bán và hỗ trợ thực hiện trên hợp đồng; đảm bảo cho khoản tiền ứng trước của người mua.
  • L/C dự phòng bảo hiểm: sử dụng phí bảo hiểm để quay vòng vốn kinh doanh.
  • L/C dự phòng thanh toán trực tiếp: được cho vay thanh toán với mức lãi suất ưu đãi.
  1. Vai trò đôn đốc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng giữa 2 bên tham gia 

Mặc dù có những đặc điểm hữu ích như vậy tuy nhiên L/C dự phòng cũng có những điểm trừ cần được biết  khi doanh nghiệp cân nhắc sử dụng loại hình thư tín dụng này.

5. ISP 98 đã phản ánh ‘thông lệ và tập quán được chấp nhận’168 liên quan tới thư tín dụng dự phòng

ISP 98 điều chỉnh nhiều nghĩa vụ như: cam kết thanh toán của bên phát hành, việc xuất trình chứng từ theo yêu cầu, sự kiểm tra chứng từ hợp lệ và các loại chứng từ dự phòng, và sự chuyển nhượng quyền nhận thanh toán. ISP 98 có nhiều điểm tương đồng với UCP, nhưng được ban hành nhằm đặc biệt điều chỉnh thư tín dụng dự phòng, ví dụ, có quy tắc cho phép chuyển nhượng nhiều lần (Quy tắc 6.02), rút một phần tiền (Quy tắc 3.08). Song song với UCP và ISP 98, còn một công cụ khác có thể được áp dụng để điều chỉnh thư tín dụng dự phòng. Đó là Công ước 1995 của Liên hợp quốc về bảo lãnh độc lập và thư tín dụng dự phòng (the United Nations Convention on Independent Guarantees and Standby Letters of Credit 1995). Mục tiêu của Công ước là nhằm cung cấp một tập hợp quy tắc đã được hài hoà hoá phục vụ cho việc sử dụng thư tín dụng dự phòng và các biện pháp bảo lãnh độc lập (thực hiện/yêu cầu bảo lãnh) và bảo đảm sự độc lập của các cam kết độc lập thông qua những nguyên tắc được Công ước đặt ra. Phạm vi áp dụng của Công ước được nêu tại Điều 1. Công ước áp dụng cho cam kết quốc tế, khi mà người bảo lãnh/phát hành thường trú ở một nước thành viên Công ước, hoặc trong trường hợp quy phạm tư pháp quốc tế dẫn chiếu tới việc áp dụng luật của một nước thành viên Công ước. Các bên có thể tùy ý loại trừ việc áp dụng Công ước.

Trái phiếu bảo lãnh (Performance Bonds) và bảo lãnh (Guarantees)

 Thuật ngữ ‘trái phiếu bảo lãnh’ và ‘bảo lãnh thực hiện’ đôi khi được gọi là trái phiếu bảo lãnh theo yêu cầu hoặc bảo lãnh theo yêu cầu (sau đây được gọi là ‘bảo lãnh theo yêu cầu’ (‘demand guarantee’). Ngân hàng chấp nhận bảo lãnh theo yêu cầu, theo đó đồng ý thanh toán theo yêu cầu bằng văn bản cho người thụ hưởng, hoặc tuyên bố của người thụ hưởng về việc không thực hiện đúng các nghĩa vụ hợp đồng của bên có trách nhiệm chính. Người thụ hưởng chỉ cần yêu cầu thanh toán mà không phải chứng minh rằng bên có trách nhiệm chính đã không thực hiện đúng các nghĩa vụ theo hợp đồng cơ sở (mặc dù đôi khi yêu cầu có thể phải kèm theo các chứng từ xác định như giấy chứng nhận của bên thứ ba độc lập về việc bên có trách nhiệm chính đã không thực hiện đúng hợp đồng, hoặc khoản thanh toán đã đáo hạn). Bảo lãnh theo yêu cầu có thể được chấp nhận bởi một ngân hàng tại nước của người thụ hưởng, trên cơ sở bảo lãnh đối ứng từ ngân hàng của bên có trách nhiệm chính (bảo lãnh theo yêu cầu gồm 4 bên). Trong bất cứ trường hợp nào, ngân hàng của bên có trách nhiệm chính cũng sẽ yêu cầu được bồi thường ngược lại từ khách hàng của mình. Đối với bảo lãnh theo yêu cầu, bước tiến quan trọng gần đây là việc thông qua ‘Quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu (URDG), ấn phẩm số 758’ (‘Uniform Rules for Demand Guarantees, Brochure No 758’) (viết tắt là ‘URDG’) trên phạm vi toàn thế giới với đa số phiếu, tại cuộc họp của Ủy ban ICC về kĩ thuật và thực tiễn ngân hàng (ICC Commission on Banking Technique and Practice) ngày 24/11/2009. Tập hợp các quy tắc này (35 điều) sẽ mang đến câu trả lời và giải pháp công bằng cho lợi ích của các bên trong mọi trường hợp. Các quy tắc sẽ giúp tránh được sự do dự, hiểu lầm và hoang mang dẫn tới các vụ kiện kéo dài không cần thiết. Việc viện dẫn và áp dụng phổ biến các quy tắc này trong thế giới ngày nay nhằm mục đích lấp đầy các lỗ hổng trong thực tiễn, thuần túy dựa trên cơ sở đánh giá các điều khoản đã được thoả thuận. Trong nhiều trường hợp, thực tiễn cho thấy bảo lãnh là công cụ nhằm cứu vãn các tình huống khó và gây tranh cãi. Việc các bên chấp nhận các quy tắc, trừ trường hợp có sự sửa đổi hoặc loại bỏ, sẽ hỗ trợ chính họ trong công việc của mình, đồng thời tạo thuận lợi và đơn giản hoá cách thức thực hiện kinh doanh quốc tế.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)