NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Bước ba: Sự đánh giá (Sự định giá)

1.1 Khái quát chung:

Hàng hóa nhập khẩu phải được định giá để đánh thuế. Hoa Kỳ đánh giá hàng hóa theo những nguyên tắc được ban hành bởi hiệp định định giá thuế quan, được đàm phán tại vòng đàm phán Tôkyo về đàm phán thương mại vào năm 1979. Hiệp định đã được thực hiện ở Hoa Kỳ, bằng cách lập ra một Luật định giá thuế quan mới. Luật mới này áp dụng với tất cả các sản phẩm xuất khẩu sang Hoa Kỳ từ ngày 1-7-1980 trở đi. Trừ mặt hàng giày cao su vẫn tiếp tục được định giá theo giá bán của Hoa Kỳ cho đến ngày 1-7-1981.

1.2 Các cách định giá hàng hóa:

Định giá hàng hóa nhập khẩu nói chung được quyết định theo 5 cách. Trước tiền, biện pháp phổ biến và được ưa chuông nhất là (1) giá trị giao dịch của hàng nhập khẩu, (2) giá trị giao dịch của hàng cùng chủng loại, (3) giá trị giao dịch của các loại hàng tương tự, (4) giá trị khấu trừ, (5) giá trị tổng cộng ước tính. Nói chung, một phương pháp được dùng chỉ khi phương pháp trước đó không thể quyết định được việc định giá trị của hàng hóa.

Giá trị giao dịch là giá thực phải trả hay sẽ phải trả cộng với (nếu không có trong giá) chi phí đóng gói do người mua phải trả, tiền hoa hồng cho người bán do người mua phải chịu, giá trị của bất cứ sự trợ giúp nào, khoản tiền bản quyền, hay lệ phí giấy tờ và cả Số tiền lời của người bán hàng sau khi bán lại, chuyển nhượng, hãy sử dụng nhập khẩu đều là một phần trong điều kiên bán hàng. Trong giá trị giao dịch không bao gồm những chi phí về chuyên chở hàng hóa quốc tế, bảo hiểm và những trách nhiệm khác, bất cứ chi phí hay trách nhiệm nào đảm nhận sau khi nhập hàng vào Hoa Kỳ, thuế hải quan và các thuế liên bang khác gồm cả thuế hàng hóạ liên bang. Nếu thông tin đầy đủ;mà không sẵn có, cả trong hóa đơn hàng và các tài liệu phụ khác, hay từ giá của nhà nhập khẩu, để định giá cho những mặt hàng này nếu có sự giới hạn, giá trị giao dịch không thể được quyết định và cơ sở tiếp theo để định giá phải được xem xét.

Nếu hải quan không thể quyết định được giá trị quản lý của hàng hóa nhập khẩu, thì sẽ xem xét giá trị giao dịch của "Hàng hóa cùng chủng loại" phù hợp với hàng hóa đang được đánh giá ở mọi khía cạnh, được sản xuất ở cùng một nước, và nói chung, cùng do một người sản xuất. Hàng hóa tương tự" là hàng hóa được sản xuất cùng một nước, cùng hãng/ một người sản xuất, tương tự hàng hóa đang được đánh giá về mặt đặc điểm, và các vật liệu thành tố, có thể thay thế cho hàng đang được đánh giá về mặt thương mại.

Phương pháp thứ tư để định giá là giá trị khấu trừ. Về cơ bản nó là giá bán lại của hàng nhập khẩu ở Hoa Kỳ, với các khoản phụ thêm khi đóng gói (nếu chưa có), sau đó khấu trừ đi khoản tiền hoa hồng, lãi suất, chi phí chung, chi phí vận chuyển, bảo hiểm thuế quan, thuế liên bang, và giá trị giá cộng thêm. Nếu một sự hỗ trợ liên quan đến việc bán hàng, thì hàng bán được không thể được sử dụng trong việc quyết định giá khấu trừ.

Cuối cùng là giá trị tổng cộng ước tính : bao gồm cả vật liệu, việc sản xuất và sự gia công khác được sử dụng trong việc sản xuất hàng nhập khẩu; lãi suất và các chi phí chung ; bất kỳ sự hỗ trợ nào, nếu chưa có ở trên, và chi phí đóng gói. Giá trị này, ở một chừng mực nào đó phải đưa vào thông tin do nhà sản xuất nước ngoài cung cấp. Nếu nhà sản xuất đó từ chối, hãy bị pháp luật hạn chế không được cung cấp thông tin đó, và nhà nhập khẩu không thể cung cấp thông tin đó, thì giá trị tính toán không thể quyết định.

Nếu không có phương pháp nào trong năm phương pháp trên có thể được sử dụng để đánh giá hàng nhập khẩu, thì giá trị thuế quan phải dựa trên giá trị được lấy từ một trong năm phương pháp trên. Để hợp lý hơn, khi cần thiết có thể sửa đổi.

Ví dụ : như trong các giao dịch của bên có liên đới khi quan hệ giữa người mua và người bán có ảnh hưởng tới giá được trả họặc có thể trả về mặt hàng cùng chủng loại. Nếu hàng hóa cùng chủng loại với hàng hóa nhập khẩu không có, hay không tồn tại giá trị giao dịch có thể chấp nhận được, thì hải quan sẽ xem xét giá trị giao dịch của những mặt hàng tương tự. Sự bổ sung việc không tiếp nhận và các giới hạn được miêu tả ở trên đối với giá trị giao dịch hàng nhập khẩu được áp dụng cho cả hai phương pháp này. Hơn nữa, hàng hóa cùng chủng loại hay hàng hóa tương tự phải được bán để xuất khẩu sang Hoa Kỳ cùng thời gian với hàng đang được định giá. Số hàng bán được của các hàng hóa cùng chủng loại hay mặt hàng tương tự phải được đặt ở mức buôn bán tương tự, và về căn bản Số lượng hàng tương tự như Số hàng đang được đánh giá ; nếu không cần phải có sự sửa đổi, điều chỉnh.

2. Bước 4: Định mức thuế (Đánh thuế)

Thuế quan của Mỹ có thể có một trong ba hình thức sau : tỷ lệ chiếu theo giá hàng, áp dụng đối với giá trị phải đóng thuế của hàng nhập khẩu, tỷ lệ cụ thể (tính theo mỗi bang, mỗi gálon...), và tỷ lệ đa hợp (sự kết hợp cả tỷ lệ cụ thể và tỷ lệ theo giá). Thêm vàọ khoản thuế quan, nếu có hàng nhập khẩu nào bị đánh thuế, phải nộp thêm phí của người sử dụng chiếu theo giá hàng hiện nay là 0,17% của giá trị hàng hóa, để chi trả, chi phí kiểm tra của hải quan. Hàng hóa nhập khẩu cũng bị đánh thuế phí bảo dưỡng cảng 0,04%. Nhập khu dầu thô và xăng dầu lỏng chịu một mức thuế thêm là 11,7 cen mỗi thung. Khoản này được chuyển đến quỹ chung để làm sạch môi trường. Hàng hóa được nhập khu từ các nước kém phát triển, các nước khởi đầu vùng lòng chảo Caribê, và các vật sở hữu của Hoa Kỳ được miễn phí, sau đó lại tái nhập khẩu theo hệ thống TSUS 806.30-807.00 (HTSUS 9802.00.60 9802.00.80). Phí của người sử dụng và phí nhập khẩu dầu được thấy là bất hợp pháp theo hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT) Chính phủ và quốc hội Mỹ không thể đồng ý xem làm thế nào để các phí này phù hợp với Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT). Phí của người sử dụng được đặt kế hoạch sẽ kết thúc vào ngày 30/09/1990, phí của việc nhập khẩu dầu sẽ kết thúc vào ngày 31/12/1991.​

Hơn nữa, xuất khẩu đường, xirô, mật mía bắt nguồn từ cây mía, cây củ cải đường, trừ khi nhà sản xuất được cấp giấy phép nhập khẩu, sẽ bị đánh thuế đặc biệt lên tới 50% chiếu theo giá. Để nhận được giấy phép nhập khẩu và miễn phí, nhà sản xuất phải chứng tỏ rằng người này chỉ dùng đường được nhập khẩu để sản xuất cồn chứa polyhydric, trừ khi cồn chứa chất polyhydric để sử dụng thay thế cho đường trong thức ăn tiêu thụ hàng ngày của con người.

Nhà nhập khẩu đặt cọc tiền thuế ước tính lúc các tài liệu tiếp nhận được lưu trữ, khi hàng hóa được đưa vào kho. Một giấy cam kết sẽ chi trả bất cứ mức thuế tăng nào có thể nảy sinh được đùng để yêu cầu nhà nhập khẩu có trách nhiệm chi trả.

Nếu hàng hóa phải chịu những tỷ lệ thuế khác nhau được đóng gói quá kỹ, đến mức Hải quan không thể biết được Số lượng hay giá trị của mỗi loại hàng (nếu không tách biệt hàng hóa xếp đặt trên tàu hay dung lượng của toàn bộ khối hàng), thì các hàng hóa hỗn hợp đó có thể bị đánh giá ở mức thuế cao nhất có thể áp dụng với bất cứ mặt hàng riêng lẻ nào, trừ khi nhà nhập khẩu phân biệt món hàng dưới sự giám sát của hải quan.

3. Bước 5: Kiểm tra, thanh tra:​

Trước khi trả hàng hóa khỏi nơi lưu giữ tại hải quan, trừ khi đã được giữ ở kho, nhân viên hải quan được yêu cầu kiểm tra ít nhất "một gói hàng trong mỗi một hóa đơn hàng, và không ít hơn một gói hàng trong mười gói hàng hóa" (Phần 499 của đạo luật về thuế quan), để quyết định xem hàng hóa đó có được lên hóa đơn đúng hay không ; có được đánh dấu, được phân định lượng, được kèm theo những giấy chứng nhận về y tế, về vệ sinh cần thiết hay không. Nhân viên này có thể kiểm tra một số lượng gói hàng ít hơn nếu anh ta thấy rằng chính phủ Mỹ sẽ không vì thế mà thu được một khoản thuế thấp hơn yêu cầu.

Đối với những chuyên hàng hóa nhỏ, hay những loại hàng hóa cụ thể như cả khối hàng, việc kiểm tra có thể diễn ra ở cảng, ở ga để công ten nơ, ở các ga để; hàng hóa, hay tại nhà kho của nhà nhập khẩu. Đối với những hàng hóa khác, các gói hàng mẫu có thể được Hải quan giữ để đánh giá và kiểm tra, phần còn lại của chỗ hàng sẽ được giao trả lại. Những gói hàng bị giữ lại cuối cùng sẽ được trao lại cho người nhập khẩu sau khi chúng đã.được kiểm tra lại.

Khi kiểm tra, hải quan phát hiện ra những khác biệt với Số lượng hay giá trị đã khai, hay khi hải quan phát hiện thấy tỷ lệ thuế áp dụng khác hoặc thấp hơn tỷ lệ nhà nhập khẩu đưa ra, thì thuế có thể phải tăng lên. Nếu nhân viên hải quan quyết định rằng : các sự khác biệt bộc lô trong khi kiểm tra do sự cố ý gian lận ở phía người bán, người chở hàng, người chủ hàng hay nhân viên, thì toàn bộ phần bên trong ruột khối hàng sẽ bị tịch thu và có thể bị mất.

Để tăng tốc độ kê khai hàng hóa qua hải quan, hải quan khuyến nghị các nhà nhập khẩu kê khai hóa đơn hàng hóa theo một phương pháp hệ thống, chỉ ra chính xác số lượng của mỗi mặt hàng trong một hộp, một kiện, một thùng hay một gói hàng khác ; ghi dấu hiệu và con số lên mỗi một gói hàng và chỉ ra những dấu hiệu giống nhau, những con số trong hóa đơn ngược từng khoản mục hàng hóa có trong kiện hàng ; các kiện hàng chứa một loại hàng hóa hay hàng hóa có cùng thể tích và giá trị.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê