1. Thủ tục làm sổ đỏ với giấy tờ mua bán viết tay?

Thưa luật sư, Tôi lên mạng tìm kiếm và biết được địa chỉ này của luật sư. Xin luật sư tư vấn giùm cho tôi trường hợp này: Bố của tôi có mua 1 mảnh đất gần 500m2. Thời điểm mua là đầu năm 1993 có giấy bán đất của UBND phường. Tuy nhiên khi mua đã để cho em trai của mẹ tôi đứng tên. Sau đó vì kinh tế thất bại nên bố tôi lấy lại mảnh đất đó.

Vào năm 2005 thì giữa 2 bên đã có giấy chuyển nhượng viết tay và có xác nhận của chính quyền địa phương. Sau chuyện này mối quan hệ giữa 2 bên (Bố tôi và cậu tôi không được tốt đẹp). Bây giờ gia đình tôi chưa làm được sổ đỏ vì lý do phải để cậu tôi đứng tên ( theo lời cán bộ địa chính phường ). Gia đình tôi sợ sự việc xảy ra tình huống xấu nên không làm như vậy. Nay xin hỏi luật sư gia đình tôi có cách nào làm trực tiếp sổ đỏ theo đúng tên bố mẹ tôi được ko ? Nếu có thể mong luật sư tận tình chỉ giúp. Xin cảm ơn !

Người gửi: Quynh Nguyen

Thủ tục làm sổ đỏ với giấy tờ mua bán viết tay?

Luật sư tư vấn luật Đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời:

- Thứ nhất, đầu năm 1993 bố bạn có mua 1 mảnh đất gần 500m2 có giấy bán đất của ủy ban nhân dân phường. Như vậy việc mua bán này là hợp pháp vì có giấy của UBND phường.

Tuy nhiên khi mua bố bạn đã để cho em trai của mẹ bạn đứng tên có nghĩa là trong trường hợp này về mặt luật pháp thì em trai mẹ bạn là chủ sử dụng hợp pháp 500m2 đất trên mặc dù bố bạn bỏ tiền ra mua.

- Thứ hai, thời điểm năm 2005 thì giữa 2 bên đã có giấy chuyển nhượng viết tay và có xác nhận của chính quyền địa phương. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cũng là hợp pháp vì năm 2005 thì Luật đất đai năm 2003 đang có hiệu lực nên sẽ căn cứ vào các quy định của Luật đất đai năm 2003 điểm b khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003:

"b) Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền dụng sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất".

Như vậy căn cứ vào quy định trên thì việc chuyển nhượng giữa 2 bên là hợp pháp vì đã có giấy chuyển nhượng viết tay và có xác nhận của chính quyền địa phương.

Về thủ tục xin cấp sổ đỏ trong trường hợp này, căn cứ theo điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP:

Trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà bên nhận chuyển quyền sử dụng đất chỉ có Giấy chứng nhận của bên chuyển quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất theo quy định thì thực hiện theo quy định như sau:

a) Người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và các giấy tờ về quyền sử dụng đất hiện có;

b) Văn phòng đăng ký đất đai thông báo bằng văn bản cho bên chuyển quyền và niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển quyền. Trường hợp không rõ địa chỉ của người chuyển quyền để thông báo thì phải đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương ba số liên tiếp (chi phí đăng tin do người đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trả);

c) Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo hoặc đăng tin lần đầu tiên trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương mà không có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký đất đai lập hồ sơ để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp không nộp Giấy chứng nhận để làm thủ tục đồng thời cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mới cho bên nhận chuyển quyền.

Trường hợp có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký đất đai hướng dẫn các bên nộp đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định.

Trân trọng!

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên qan: Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai;

2. Mua giấy viết tay có được cấp sổ không? thủ tục thực hiện như thế nào?

Thưa luật sư. Ngày 14. 09. 2015 gia đình em có mua được 630m vuông đất bằng giấy viết tay, không công chứng, nhưng khi em mượn sổ đỏ góc để tách đất ra thì người bán không cho mượn. Nay vợ chồng em muốn đi làm sổ đỏ, khi không có sổ đỏ gốc mà chỉ có giấy mua bán viết tay em có làm được không. Và thủ tục làm sổ ra sao ?

Mua giấy viết tay có được cấp sổ không? thủ tục thực hiện như thế nào?

Luật sư trả lời:

Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 có có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014 quy định về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau:

"...3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã."

Theo thông tin dữ liệu bạn đưa ra thì ngày 14/09/2015 bạn có "mua được 630m vuông đất bằng giấy viết tay, không công chứng" như vậy theo quy định pháp luật trên thì hợp đồng này của bạn không đảm bảo về mặt hình thức. Và theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì hợp đồng của bạn sẽ bị tuyên vô hiệu.

"Điều 134. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu."

Tuy nhiên, với quy định pháp luật trên thì bạn vẫn có cách yêu cầu cơ quan nhà nước công nhận đây là hợp đồng có giá trị pháp lý, cụ thể bạn có thể làm đơn yêu cầu gửi tới cơ quan Tòa án để yêu cầu bên chuyển nhượng đất cùng với bạn đi công chứng, chứng thực hợp đồng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

3. Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mảnh đất được mua bán qua giấy viết tay?

Kính chào luật sư! Tôi có vấn đề muốn được tư vấn như sau: Ngày 20/5/2002 ba tôi có mua một miếng đất 15m2 tại Trảng Bàng. Tuy nhiên việc mua bán đất chỉ được thỏa thuận qua giấy viết tay, không được công chứng, chứng thực.
Gia đình tôi lên thành phố ở trọ sinh sống. Hàng năm gia đình tôi vẫn về chỗ đất này. Tôi muốn hỏi hiện giờ tôi muốn làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có được không? Cảm ơn !

Làm thế nào để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mảnh đất được mua bán qua giấy viết tay?

1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Thứ nhất, về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Gia đình bạn mua đất năm 2002, khi đó Bộ luật dân sự 1995 đang có hiệu lực và là căn cứ pháp luật để áp dụng.

Điều 707 Bộ luật dân sự 1995 quy định về hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau "Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải được làm thủ tục và đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai."

Như vậy, tại thời điểm này thì hợp đồng mua bán đất của bạn vô hiệu do không có công chứng chứng thực.

Thứ hai, về việc xử lý hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.

Đối với trường hợp của bạn, sẽ có 2 khả năng xảy ra:

Trường hợp 1: sau khi chuyển nhượng đất, 2 bên không xảy ra tranh chấp và bên mua trồng cây lâu năm, làm nhà kiên cố...mà không bị bên chuyển nhượng phản đối thì Tòa án vẫn công nhận hợp đồng theo Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình tại phần II, mục 2, tiểu mục 2.3 quy định việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau này 15/10/1993 như sau:

"a) Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Theo qui định tại Điều 131, các điều từ Điều 705 đến Điều 707 và Điều 711 của Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai năm 1993 và khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 của Luật Đất đai năm 2003, thì Toà án chỉ công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a.1. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng lực hành vi dân sự;

a.2. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn tự nguyện;

a.3. Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

a.4. Đất chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003;

a.5. Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo qui định của pháp luật;

a.6. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

b) Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có đầy đủ các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.3 mục 2 này.

b.1. Đối với hợp đồng được giao kết trước ngày 01/7/2004 vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, mà có phát sinh tranh chấp, nếu từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.

b.2. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tại thời điểm giao kết vi phạm các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2, 3 mục 2 này, nhưng sau đó đã được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà có phát sinh tranh chấp và từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.

b.3. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và huỷ phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch."

Trường hợp 2: sau khi chuyển nhượng, 2 bên xảy ra tranh chấp, bên bán yêu cầu Tòa tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Đối với trường hợp mà có tranh chấp phát sinh, bên bán yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì việc giải quyết hậu quả sẽ được xử lý theo điểm c, tiểu mục 2.3, mục 2, phần II, nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP cụ thể :

"c) Việc giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.

c.1. Khi xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, thì tuỳ từng trường hợp Toà án áp dụng quy định của điều luật tương ứng từ Điều 136 đến Điều 138, từ Điều 140 đến Điều 145 và Điều 146 của Bộ luật Dân sự để xác định thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.

c.2. Xác định lỗi, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Việc xác định lỗi, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm a và điểm b tiểu mục 2.4 mục 2 Phần I của Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình"

c.3. Xác định thiệt hại.

- Khi tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì Toà án cần xác định thiệt hại gồm:

Khoản tiền mà bên chuyển nhượng phải bỏ ra để khôi phục lại tình trạng ban đầu của diện tích đất do bên nhận chuyển nhượng đã làm huỷ hoại đất; khoản tiền mà bên nhận chuyển nhượng đã đầu tư để cải tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất, giá trị công trình, tài sản, cây lâu năm... trên đất. Trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có thoả thuận khác về việc áp dụng biện pháp phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 379 Bộ luật Dân sự để bảo đảm thực hiện hợp đồng thì thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thoả thuận với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có.

- Để xác định đúng các thiệt hại nói trên, Toà án phải tiến hành định giá giá trị quyền sử dụng đất và xác định thiệt hại về đất như sau:

Nếu các đương sự không thoả thuận được về giá trị quyền sử dụng đất và giá trị thiệt hại, thì Toà án yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc ra quyết định thành lập hội đồng định giá. Giá trị quyền sử dụng đất được xác định theo giá thị trường chuyển nhượng tại địa phương nơi đất đang tranh chấp đối với từng loại đất vào thời điểm xét xử sơ thẩm.

Trong trường hợp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có quy định giá trị quyền sử dụng đất cụ thể phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giá thị trường tại địa phương hoặc các trung tâm giao dịch bất động sản hoạt động hợp pháp có niêm yết giá giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa phương vào thời điểm xét xử sơ thẩm, thì Toà án có thể căn cứ vào giá do Uỷ ban nhân dân quy định hoặc giá niêm yết của các trung tâm giao dịch để xác định giá trị quyền sử dụng đất, mà không nhất thiết phải thành lập hội đồng định giá. Trong trường hợp này cần phải có căn cứ xác định giá quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân quy định hoặc giá quyền sử dụng đất do trung tâm giao dịch bất động sản niêm yết là hoàn toàn phù hợp với giá thị trường vào thời điểm xét xử sơ thẩm.

- Trách nhiệm chịu chi phí cho việc định giá do các đương sự phải chịu chi phí tương ứng với phần nghĩa vụ của họ. Trường hợp đương sự có yêu cầu định giá lại, thì người có yêu cầu phải tạm ứng trước chi phí cho việc định giá lại và Toà án sẽ quyết định ai phải chịu chi phí định giá tuỳ thuộc vào kết quả xét xử."

Như vậy, trường hợp của bạn có thể căn cứ vào những quy định trên đây để biết hậu quả pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay, không có công chứng chứng thực. Sau khi xác nhận được việc chuyển nhượng có giá trị pháp lý hay không? bạn có thể thực hiện thủ tục sang tên tại Phòng tài nguyên môi trường cấp huyện (quận, thành phố thuộc tỉnh) nơi có đất.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Rất mong sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

4. Mua đất có giấy tờ mua bán và giấy tờ viết tay có chứng nhận của Xã có hợp pháp không?

Kính thưa luật sư. Hiện tại tôi đang muốn mua 1 mảnh đất nhưng hiện tại mảnh đất đó chưa có sổ đỏ vì đó là mảnh đất được chủ cũ mua lại do UBND xã thanh lý cho dân từ năm 2003. Có giấy tờ mua bán và giấy viết tay và có chứng nhận của xã.

Vì vậy tôi xin hỏi như thế đất tôi mua có hợp pháp không , có được cấp bìa đỏ không và nếu bị thu hồi thì có được bồi thường không. Và mức bồi thường là bao nhiêu ?

Luật sư trả lời:

Theo quy định của Luật đất đai 2013

Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Vậy trong trường hợp của bạn , người chủ mảnh đất đã làm thủ tục "xin dấu xác nhận của UBND xã " thì đây được coi là việc bạn đã chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vậy về hình thức, hợp đồng này hoàn toàn hợp pháp và có giá trị chứng minh quyền sở hữu của người đó trên mảnh đất này . Bạn mua miếng đất này hoàn toàn hợp pháp và có thể làm được sổ đỏ ( giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)

Do bạn không trao đổi rõ về mục đích sử dụng của miếng đất nên chúng tôi chưa thể đưa ra hướng tư vấn cụ thể cho bạn , bạn có thể tham khảo bài viết sau tùy vào việc đất của bạn là đất thổ cư hay đất nông nghiệp như sau:

Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở

Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

5. Mua bán nhà được nhà nước phân bằng hợp đồng viết tay có được cấp giấy không? và cách tính tiền sử dụng đất?

Kính thưa anh/chị,hiện gia đình em đang sở hữu căn nhà với nguồn gốc nhà có những giấy tờ như sau:- đời đầu tiên: có giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất năm 1984- đời thứ 2: có đơn xin giao tra đất/ tờ trình v/v xin sử dụng đất/ đơn xin cấp đất/ đơn xin sử dụng đất xây dựng. Tất cả đều được cấp năm 2000- đời thứ 3 (tức gia đình em): có hđ mua bán tay năm 2001/ giấy tái xác nhận chuyển nhượng năm 2001/ bản tường trình năm 2001/tờ khai nộp thuế đất năm 2003/ giấy chứng nhận số nhà năm 2001.Hiện gia đình em đang nhờ dịch vụ làm sổ hòng. , bên dịch vụ họ yêu cầu đóng 98tr (=6tr4 x s nha x 0. 403) tiền thuế sử dụng đất.
Kính nhờ quý công ty tư vấn giúp chi tiết giúp em trong trường hợp gia đình em đã có những giấy tờ đất như trên thì có cần đóng thuế sử dụng đất nữa ko ạ ? Em phải trả lời với bên dịch vụ như thế nào cho hợp lý ?

Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo quy định của Luật thuế được tính như sau:

Điều 6. Giá tính thuế

1. Giá tính thuế đối với đất được xác định bằng diện tích đất tính thuế nhân với giá của 1m2 đất: Giá của 1m2 đất là giá đất theo mục đích sử dụng do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định và được ổn định theo chu kỳ 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Diện tích đất nộp thuế là diện tích đất thực tế sử dụng.

Điều 7. Thuế suất

1. Thuế suất đối với đất ở bao gồm cả trường hợp sử dụng để kinh doanh áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần được quy định như sau:

Bậc thuế

Diện tích đất tính thuế (m2)

Thuế suất (%)

1

Diện tích trong hạn mức

0,03

2

Phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức

0,07

3

Phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức

0,15

Việc gia đình bạn thông qua bên dịch vụ để cấp sổ thì chi phí do hai bên thỏa thuận.

6. Hợp đồng trao đổi đất nông nghiệp viết tay có giá trị pháp lý không ?

Thưa luật sư, Xin hỏi: Anh tôi có đổi ruộng của người cùng đội SX để thực hiện công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thời gian đổi từ năm 2006, có giấy viết tay, có xác nhận của trưởng thôn, đội trưởng SX.

Anh tôi có đổi ruộng của người cùng đội SX để thực hiện công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thời gian đổi từ năm 2006, có giấy viết tay, có xác nhận của trưởng thôn, đội trưởng SX, bí thư chi bộ, a tôi đã đào ao quây bờ trồng cây, đến nay gia đình đổi ruộng cho anh tôi đòi lại và muốn chiếm dụng một phần diện tích đất liền kề của gia đình họ, để họ để sử dụng vào trồng cây, như vậy phải làm thế nào? việc họ đòi lại ruộng đã đổi cho anh tôi để đào ao có đúng không?

xin Luật sư tư vấn giúp, tôi xin trân trọng cảm ơn !

Hợp đồng trao đổi đất nông nghiệp viết tay có giá trị pháp lý không ?

Tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi :1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 455 bộ luật dân sự Hợp đồng trao đổi tài sản Bộ luật dân sự năm 2015)

1. Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau.

2. Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định.

3. Trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

4. Mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về. Các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 430 đến Điều 439, từ Điều 441 đến Điều 449 và Điều 454 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản.

Để xác định đươc là việc bên kia (A) có quyền đòi lại tài sản của anh bạn hay không. Mình cần xác định xem hợp đông trao đổi tài sản của anh ban và A có hợp pháp hay không ? và có bị vô hiệu hay không?

Hợp đồng trao đổi là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu với tài sản cho nhau. nếu anh bạn và A đã thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; không vi phạm các điều cấp của pháp luật, đạo đức xã hội; không giao dịch một cách giả tạo( nhằm che giấu 1 giao dịch khác); Giao dịch đó không bị nhầm lẫn về nội dung ..; đó bị đe dọa, lừa dối hay người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Anh bạn và bên kia không vi phạm các điều trên thì A không có quyền đòi lại mảnh đất đã trao đổi.

Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định. Theo quy định của Luật đất đai các giao dịch về đất đai phải được công chứng, chứng thực. Trong trường hợp này các bên thỏa thuận chuyển đổi đất không có công chứng, chứng thực mà chỉ có xác nhận của trưởng thôn, nên xét về hình thức thì hợp đồng này đang bị vô hiệu. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với hợp đồng không được công chứng, chứng thực để được công nhận hiệu lực thì sẽ phải làm thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng đó.

Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật MInh Khuê