1. Thủ tục rút đơn khởi kiện ly hôn đơn phương như thế nào ?

Thưa Luật sư. Tôi và chồng tôi kết hôn năm 2010 đến nay. Nhưng cuộc sống hôn nhân vô cùng bế tắc, chúng tôi đã có 1 bé trai 7 tuổi. Vì nhiều lý do khác nhau chúng tôi không còn sống chung với nhau khoảng 01 năm nay. Tôi đã về nhà bà ngoại ở, tôi vẫn thường xuyên qua thăm con, trong khoảng thời gian này chồng tôi đi nước ngoài nên tôi mang con về nhà bà ngoại. Khi anh về nước thì anh lại đòi con về. Vì xác định tình cảm không còn nên tôi đã viết đơn ly hôn đơn phương gửi cho Tòa án. Nhưng khi tôi mới gửi đơn được khoảng 10 ngày anh lại tiếp tục đi nước ngoài xuất khẩu lao động. Sau đó tôi gọi cho Tòa án thì họ bảo như thế thì phải lên rút đơn và nộp lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Vậy tôi có cần phải rút đơn không? Và rút đơn như thế nào?
Xin luật sư tư vấn, xin cảm ơn Luật sư.

Luật sư tư vấn:

1.1 Thế nào là ly hôn có yếu tố nước ngoài:

Ly hôn có yếu tố nước ngoài là các trường hợp ly hôn mà đương sự có yếu tố nước ngoài hoặc tài sản của đương sự ở nước ngoài, cụ thể có thể hiểu như sau:
- Đương sự là người nước ngoài không định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý;
- Đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý;
- Đương sự là người nước ngoài định cư, làm ăn, học tập, công tác tại Việt Nam nhưng không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý;
- Đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý;

1.2 Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài của Tòa án:

Đối với trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết.
Vì vậy trong trường hợp của bạn, chồng bạn đang đã đi nước ngoài trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình thì lúc này thẩm quyền giải quyết không thuộc Tòa án nhân dân cấp quận/ huyện nữa. Chính vì vậy Tòa án đề nghị bạn rút đơn là đúng và Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án.

1.3. Thủ tục rút đơn khởi kiện ly hôn đơn phương:

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tại Điều 217 quy định vụ án được đình chỉ giải quyết trong trường hợp:
a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
Trường hợp của bạn thì vụ án đã được Tòa án thụ lý, nên nếu bạn rút đơn trong trường hợp này thì vụ án của bạn sẽ bị đình chỉ giải quyết.

1.4 Mẫu đơn xin rút đơn khởi kiện ly hôn đơn phương:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

…., ngày……tháng….năm…

ĐƠN XIN RÚT ĐƠN KHỞI KIỆN

Kính gửi: Tòa án nhân dân…………………………………………

Tôi tên là:……………………………. Sinh ngày:……………………..

Chứng minh thư nhân dân số :………… Cấp ngày :………..……..

Nơi cấp :…………………………………………………………………

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú :……………………………………

Số điện thoại :……………………………………………………………

Tôi làm đơn này xin kính đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi với nội dung cụ thể như sau :

Tôi là ... , tôi và vợ/ chồng ... kết hôn năm ... được UBND xã/ phường ... cấp Giấy chứng kết hôn ngày ... tháng ... năm ...

Do mâu thuẫn vợ chồng đã dẫn đến trầm trọng nên tôi đã làm đơn xin ly hôn gửi lên Tòa án nhân dân ... .và được Tòa án nhân dân ... thụ lý vụ án theo thông báo thụ lý số : ...

Nhưng hiện nay chồng tôi đã đi ra nước ngoài làm việc theo dạng xuất khẩu lao động nên tôi làm đơn này xin được rút đơn khởi kiện mà tôi đã nộp tại Tòa án nhân dân ...

Kính mong Quí Tòa án xem xét và giải quyết.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

NGƯỜI LÀM ĐƠN

Như vậy: Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương. Nếu trong trường hợp đã nộp đơn ở Tòa án nhân dân quận/ huyện thì có thể làm thủ tục rút đơn khởi kiện.

>> Xem thêm:  Chưa ly hôn đã tổ chức đám cưới với người khác thì xử lý thế nào ? Quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

2. Đơn phương xin ly hôn khi kết hôn mà không có con ?

Thưa luật sư, em và chồng đám cưới được 04 năm, nhưng cuộc sống của vợ chồng em không được bình thường như mọi người, 04 năm sinh sống chồng em rất ít làm đúng trách nhiệm của người chồng, đã 04 năm mà em vẫn không có con, mà chồng em ngày nào cũng nhậu, em cảm thấy bế tắc, em muốn đơn phương xin ly hôn, thì phải làm thủ tục như thế nào, xin luật sư hướng dẫn cho em?
Xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên:

"1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Do đó, nếu bạn muốn đơn phương ly hôn thì bạn phải chứng minh được lý do bạn muốn ly hôn theo quy định của pháp luật, khi có lý do chính đáng thì Thẩm phán Tòa án giải quyết vụ việc của bạn sẽ có căn cứ để cho vợ chồng bạn ly hôn.

Hồ sơ đơn phương ly hôn bao gồm:

- Đơn khởi kiện theo Mẫu số 23-DS Đơn khởi kiện Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự;

- Bản sao có chứng thực Chứng minh nhân dân/ Thẻ căn cước công dân của bạn;

- Bản sao có chứng thực Sổ hộ khẩu của bạn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Các giấy tờ, tài liệu chứng minh tài sản chung (nếu có).

Sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, giấy tờ như trên, bạn sẽ nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã nơi chồng bạn cư trú (có thể là nơi đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú).

Thủ tục giải quyết ly hôn đơn phương:

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Thủ tục nhận và xử lý đơn:

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn là 04 tháng. Trong thời gian chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán được phân công xét xử vụ án sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong trường hợp hòa giải thành, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Như vậy, khi chồng bạn được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng chồng bạn vắng mặt mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa (khoản 1 Điều 227);

Khi chồng bạn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, mà không có yêu cầu phản tố, vắng mặt không có người đại diện tham gia phiên tòa thì tòa án vẫn xét xử vắng mặt họ (điểm b khoản 2 Điều 227); Trong đó, yêu cầu phản tố được hiểu là việc bị đơn khởi kiện lại nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Mục đích của yêu cầu phản tố là để bù trừ nghĩa vụ, khấu trừ nghĩa vụ hoặc loại trừ một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Khi chồng bạn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, có yêu cầu phản tố, mà vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp chồng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt (điểm c khoản 2 Điều 227);

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.0159 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hạn chế quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn ? Chia tài sản khi ly hôn ?

3. Muốn nộp đơn xin ly hôn thì cần phải nộp ở đâu ?

Thưa Luật sư! Mong Luật sư tư vấn giải quyết vấn đề ly hôn giữa hai vợ chồng tôi với ạ. Tình hình hiện tại của vợ chồng tôi: - Lấy nhau vốn đã không được sự ủng hộ của gia đình cho lắm. - Vợ chồng tôi không hợp nhau trong suy nghĩ và nói chuyện cũng như giải quyết các vấn đề. Hay bất đồng quan điểm.
- Chồng tôi là bộ đội, làm bên đơn vị kinh tế nên đi theo công trình suốt và khắp các tỉnh. Thời gian ở nhà là ít.Hiện tại đang làm ở Nghệ An. Rất ít về nhà, ít hỏi han nói chuyện với 2 con của chúng tôi. Thậm chí, sinh nhật hai cháu cũng không nhớ để hỏi thăm. Chúng tôi hiện có 1 cháu trai 5 tuổi và 1 cháu gái 3 tuổi. - Do mâu thuẫn giữa tôi và gia đình chồng, mâu thuần giữa tôi và chồng cũng được kéo theo từ đấy, cùng với mâu thuẫn vốn có của 2 vợ chồng chúng tôi. Chúng tôi hiện tại đã không liên lạc với nhau nữa. Tôi có đề nghị chồng tôi về giải quyết chuyện gia đình, và nói chuyện ly hôn nhưng chồng tôi không về. Không gọi điện cho các con, cũng không gửi tiền nuôi con được 3 tháng. Về nhận định cá nhân và những người xung quanh thì chồng tôi không phải là người có trách nhiệm, sống vô tâm, thích tự do và thích đi xa nhà. Cứ hai vợ chồng có khúc mắc gì là chồng tôi không về nhà như đã định nữa. Tôi cũng đã thử hài hòa để giữ gia đình cho các con nhưng quá nhiều việc khiến tôi phải đến quyết định ly hôn.
- Quê chồng tôi ở Hải Dương, Công ty ở Hà nội, hiện tại làm việc tại Nghệ An. Còn tôi ở Thái Nguyên. Hộ khẩu 3 mẹ con tôi vẫn ở Thái Nguyên. Hộ khẩu chồng tôi ở Hải Dương. Xin hỏii: - Tôi muốn nộp đơn xin ly hôn thì cần phải nộp ở đâu?
- Tôi đơn phương xin ly hôn thì có được chấp nhận không? thủ tục giải quyết như thế nào? có mất nhiều thời gian không? - Có cách nào để tôi giải quyết việc ly hôn này nhanh không ạ? Thời gian kéo dài đợt này tôi khá mệt mỏi, cùng việc phải chăm 2 cháu ốm liên tục, tự lo kinh phí nuôi 2 cháu.
Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Thủ tục đơn phương ly hôn

Hồ sơ xin đơn phương ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con

Thủ tục:

+ Thụ lý đơn ly hôn (đơn khởi kiện): Sau khi nhận được đơn từ nguyên đơn, sau 5 ngày làm việc Tòa án phải xem xét có thụ lý đơn hay không. Nếu hồ sơ hợp lệ thì Tòa án gửi thông báo cho nguyên đơn đóng tiền tạm ứng án phí, Tòa án ra quyết định thụ lý đơn ly hôn đơn phương từ thời điểm nguyên đơn nộp biên lai đã đóng tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 167 và Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi 2011

+ Hòa giải: Theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì hòa giải tại Tòa án là thủ tục bắt buộc trước khi đưa vụ án ra xét xử. Nếu hòa giải thành thì tòa án lập biên bản hòa giải thành và sau 7 ngày mà các đương sự không thay đổi về ý kiến thì Tòa án ra quyết định công nhận hòa giải thành và quyết định này có hiệu lực ngay và không được kháng cáo kháng nghị. Nếu hòa giải không thành Tòa án cũng phải lập biên bản hòa giải không thành sau đó ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 183, 186, 187,188, 195 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi 2011

+ Phiên tòa sơ thẩm: Sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử các bên được Tòa án gửi giấy triệu tập và được thông báo rõ về thời gian, địa điểm mở phiên Tòa sơ thẩm. Theo đó các bên phải có mặt, nếu không có mặt thì áp dụng theo quy định tại Điều 199 và Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi 2011

Nơi nộp đơn:

Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

Theo đó, bạn của bạn phải nộp đơn ly hôn tại Tòa án cấp huyện nơi người chồng cư trú (Hải Dương).

Thời gian giải quyết:

Thời gian giải quyết vụ án tùy thuộc vào việc giải quyết các nội dung quan hệ vợ chồng. Thông thường, thời hạn chuẩn bị xét xử sẽ từ 4 đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án; thời hạn mở phiên tòa sẽ từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

4. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi vợ đơn phương xin ly hôn ?

Mong luật sư tư vấn giúp cháu vấn đề sau: Cháu và chồng kết hôn được 3 năm, sau khi kết hôn vợ chồng cháu có 1 người con trai hiện tại 20 tháng, 2 mẹ con cháu ở vinh phúc, còn chồng cháu do công tác làm bộ đội nên đi xa và hiện tại ở hà giang. Trong 3 năm qua chồng cháu báo nợ 2 lần hơn 100 triệu và gia đình đã phải trả nợ, đến xe máy hiện tại cũng không có.
Hiên tại chồng cháu đang vay tiền qua lương 90 triệu. Mỗi tháng trả 4 triệu, tổng lương của chồng cháu là 9 triệu. Cháu chưa đi làm nhưng ra tết cháu xin được kế toán với mức lương 3 triệu. Hiện tai 2 vợ chồng cháu đang thuê nhà sống ở hà giang, con chúng cháu gửi ông bà nội. Chồng cháu lăng nhăng gái gú trên này nhưng cháu không làm thế nào để có được bằng chứng vì người phụ nữ đó là dân giang hồ ở đây, còn cháu đất khách quê người. Vậy cho cháu hỏi cháu kết hôn ở Vĩnh Phúc thi phải về Vĩnh Phúc giải quyết ly hôn hay có thể giải quyết ở Hà Giang và cháu có thể giành quyền nuôi con không?
Cháu xin cảm ơn!

Trả lời:

4.1 Điều kiện để có thể đơn phương ly hôn là gì ?

Ly hôn là một điều không ai mong muốn xảy ra trong hôn nhân, tuy nhiên nếu như cuộc sống hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, 1 trong 2 người có lỗi ....thì việc ly hôn có thể sẽ là 1 giải pháp mà hai vợ chồng có thể nghĩ đến. Nhưng ly hôn cũng chỉ là giải pháp cuối cùng khi đã tìm các cách khác nhau để hàn gắn, giải quyết mâu thuẫn. Vì suy cho cùng ly hôn sẽ để lại những hệ luỵ mà trước mắt cả hai chưa thể nhìn nhận ra được. Chính vì vậy, cả hai nên cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định ly hôn để cả hai cùng thấy thoải mái, và con cái sẽ không bị ảnh hưởng tâm lý khi bố mẹ ly hôn.

Khi một trong hai bên không đồng thuận ly hôn thì người kia có quyền yêu cầu toà án giải quyết đơn phương ly hôn. Vậy điều kiện để đơn phương ly hôn là gi? Cụ thể:

Theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Theo quy định này, pháp luật cho phép vợ hoặc chồng đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, nếu như thuận tình ly hôn thì Tòa án xem xét sự thuận tình, tự nguyện của các bên, còn đơn phương ly hôn thì Tòa án lại xem xét chủ yếu căn cứ mà bên đơn phương ly hôn đưa ra. Điều luật quy định rằng: "hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được".

4.2. Khi nào hôn nhân được coi là rơi vào tình trạng trầm trọng ?

Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình thì 1 trong hai bên được quyền yêu cầu Toà án giải quyết đơn phương ly hôn khi cuộc hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng. Vậy khi nào thì cuộc hôn nhân được coi là rơi vào tình trạng trầm trọng?

Cụ thể:

>>> Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

>>>Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

>>>Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

.............

Như vậy, khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án bạn phải chứng minh về việc cuộc hôn nhân của vợ chồng bạn không hạnh phúc và không thể kéo dài được nữa, chứng minh bằng việc chồng bạn ngoại tình.

4.3. Thẩm quyền giải quyết ly hôn được quy định như thế nào ?

Về thẩm quyền giải quyết việc ly hôn thì theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. theo đó, Điều 33, Điều 35 quy định như sau:

Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

Bên cạnh đó thì cũng cần căn cứ vào nơi cư trú của hai vợ chồng để lựa chọn Toà án giải quyết ly hôn. Cụ thể như sau:

Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

Như vậy dựa vào những căn cứ trên đây thì bạn có thể xin ly hôn tại Hà Giang (nếu xác định đây là nơi cư trú của chồng bạn). Trường hợp vợ chồng bạn thuận tình ly hôn thì có thể giải quyết tại Tòa án nhân dân nơi bạn cư trú hoặc nơi chồng bạn cư trú.

4.4. Quy định về việc ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn ?

Khi ly hôn, việc phân chia ai là người nuôi con cũng là một vấn đề khó khăn bởi lẽ nếu hai người thoả thuận được việc ai sẽ là người trực tiếp nuôi con sẽ không có gì khó khăn trong việc giải quyết, tuy nhiên nếu cả hai bên không tìm được sự đồng thuận khi phân chia quyền nuôi con thì Toà án sẽ là bên đưa ra phán quyết cuối cùng.

Theo Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định như sau:

+ Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

+ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

+ Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, bạn có con mới được 20 tháng nên căn cứ vào khoản 3 Điều 81 như trên thì người mẹ có quyền nuôi con nhưng bạn chứng minh được các điều kiện vật chất: ăn ở, sinh hoạt..., điều kiện tinh thần và các điều kiện khác mà bạn dành cho con tốt hơn so với ở với cha để có thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Nếu bạn được trực tiếp nuôi con thì cha đứa bé có nghĩa vụ sau đây:

- Nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

- Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Mức cấp dưỡng được quy định tại điều 116 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Theo đó, bạn và chồng bạn sẽ thỏa thuận về mức cấp dưỡng con, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

>> Xem thêm:  Tư vấn ly hôn khi hai vợ chồng không có chung sổ hộ khẩu ? Quyền chăm sóc con sau ly hôn ?

5. Tôi muốn đơn phương ly dị phải làm thủ tục gì ?

Xin các bạn cung cấp cho tôi thủ tục ly hôn như thế nào? Trường hợp của tôi sau đây thì hình thức giải quyết ra sao?

Tôi và chồng tôi kết hôn với nhau đến nay gần 8 năm, có với nhau một bé trai nay đã 8 tuổi, nhưng thực sự thời gian chung sống với nhau chỉ gần 3 năm. Những năm sau này anh ấy đi biền biệt không một lần ghé thăm tôi và con. Tôi rất buồn có đôi lần đi tìm anh thì mới hay anh đang chung sống cùng người phụ nữ khác.

Sau bao năm chờ đợi tôi nghĩ rằng một ngày nào đó anh sẽ suy nghĩ lại mà trở về với mẹ con tôi nhưng tôi hoàn toàn thất vọng vì anh không một lời hỏi thăm cũng chẳng chu cấp khoản kinh phí nào để tôi nuôi con. Đến hôm nay sức chịu đựng tôi có hạn, tôi không thể tiếp tục chờ đợi con người bạc tình bạc nghĩa đến thế.

Hiện tôi thường trú tại quận 6 còn anh ở đâu thì tôi không biết, nhưng gia đình mẹ anh thì ở Long An. Chúng tôi kết hôn với có hôn thú hẳn hoi do UBND xã ở Long An chứng nhận. Trong hoàn cảnh này tôi muốn được đơn phương xin ly hôn nơi mình đang cư ngụ có được hay không? (không cần sự hiện diện của anh).

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Luật sư trả lời!

Câu hỏi của bạn Bảo Châu tôi xin trả lời như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: ”Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”.

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định căn cứ ly hôn:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Vợ chồng bạn kết hôn được 8 năm kể từ ngày kết hôn cho đến nay và có một con chung. Tuy nhiên, trên thực tế vợ chồng bạn chỉ chung sống với nhau được 3 năm, 5 năm sống ly thân, chồng bạn đang chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác không quan tâm đến gia đình.

Như vậy, theo quy định điều luật ở trên tình trạng hôn nhân của vợ chồng bạn là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định cho ly hôn. Vì vậy, bạn đơn phương xin ly hôn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết cho ly hôn. Về câu hỏi bạn có thể đơn phương nộp đơn xin ly hôn nơi bạn đang cư trú được không?

Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc. Nơi cư trú của cá nhân là nơi cá nhân thường xuyên sinh sống hoặc đang sinh sống.

Do vậy, để được tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bên nguyên đơn chứng minh được nơi bị đơn thường xuyên sinh sống hoặc đang sinh sống, hoặc nơi người này làm việc. Nếu thấy bị đơn thay đổi địa chỉ, không còn cư trú hoặc làm việc tại địa phương nữa mà thực tế đang cư trú hoặc làm việc tại địa phương khác, tòa án đang thụ lý sẽ chuyển vụ án cho tòa án nơi bị đơn đang cư trú hoặc làm việc để tiếp tục giải quyết vụ án.

Do vậy, trong trường hợp cụ thể của bạn, Tòa án nơi bạn đang cư trú không thuộc thẩm quyền giải quyết cho ly hôn, Tòa án nơi cư trú của bị đơn (nơi cư trú của chồng) mới có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, do bạn không biết rõ nơi cư trú của chồng bạn ở đâu nên rất khó xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Nếu bạn nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nơi bạn đang cư trú, Tòa sẽ không thụ lý giải quyết và trả lại đơn theo quy định tại Điểm đ, Khoản 1, Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án ly hôn được giải quyết nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật thì nghĩa vụ chứng minh, chứng cứ thuộc về các đương sự.

Vì vậy, bạn nên tìm kiếm nơi cư trú của chồng bạn và cung cấp thông tin cho Tòa án để giải quyết việc ly hôn được nhanh chóng, nếu trong quá trình tìm kiếm không đạt kết quả bạn làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích, sau đó yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn theo Khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 2 Điều 56 quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chi phí ly hôn trọn gói để ly hôn hết bao nhiêu tiền ? Thủ tục có nhanh gọn không ?