- 1. Vấn để thể chế hóa quyền con người
- 2. Cụ thể hóa quyền con người trong hệ thống pháp luật
- 3. Tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người
- 4. Việt Nam trong thực thi các điều ước quốc tế về quyền con người
- 5. Việt Nam trong thực thi các biện pháp lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm quyền con người
1. Vấn để thể chế hóa quyền con người
Đế phát huy đầy đủ vai trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con người thì phải thể chế hóa quyền con người thành các quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật, phải có các cơ chế bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện trong thực tế. Nói cách khác, đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con người chính là đảm bảo thực hiện quyền con người bằng pháp luật.
Thể chế hoá quyền con người trong hệ thống pháp luật, không chỉ là cụ thể hóa quyền con người thành các quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân và những người không phải là công dân hoặc bị tước đi quyền công dân. Nó bao hàm cả việc quy định các hình thức, biện pháp xử lý những hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân; quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và công chức nhà nước, xây dựng hệ thống các thủ tục trong đó có tố tụng hình sự; cụ thể hoá các công ước quốc tế về quyền con người mà các quốc gia đã tham gia ký kết hay phê chuẩn nhằm đảm bảo thực hiện bảo vệ quyền con người. Quyền con người được thể chế hoá trong hệ thống pháp luật thành hệ thống các quy định nêu trên, nhưng nếu không có cơ chế bảo đảm thực hiện các quy định đó thì không thể nói đã có đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người. Vì vậy phải triển khai các hoạt động phổ biến, tuyên truyền, giáo dục, giải thích pháp luật, hướng dẫn thực hiện pháp luật... nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho các thành viên xã hội, hình thành văn hóa pháp lý trong đời sống xã hội. Đồng thời huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong việc tổ chức thực hiện pháp luật, nhất là nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật của bộ máy nhà nước, phải đảm bảo cho các quy định nhằm thực hiện bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hệ thống pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, các hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân ngày càng ít đi, nếu còn có hiện tượng vi phạm thì càng phải được phát hiện, xử lý kịp thời.
Quyền con người luôn là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp nên bảo đảm thực hiện nó không phải chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền con người mà còn phải thực thi nhiều biện pháp đồng bộ, được mọi cấp, mọi ngành,mọi người tham gia.
2. Cụ thể hóa quyền con người trong hệ thống pháp luật
Trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về tư tưởng quyền con người được Đảng và Nhà nước ta xác định là hệ tư tương chính thống, là kim chỉ nam cho mọi hành động và thắng lợi của cách mạng Việt Nam và được chính thức đưa ra từ Đại hội VII của Đảng và tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo. Đặt con người vào vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi chính sách, hành động, Đảng khẳng định chế độ xã hội chủ nghĩa mà Nhà nước ta đang hướng tới xây dựng là một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ”. Điều này được thể hiện rõ tại các văn kiện trọng tâm của Đảng như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991 và bổ sung, phát triển năm 2011), nghị quyết các Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ IX, X, XI, XII; các Chỉ thị của Bộ Chính trị cũng như các văn kiện khác của Đảng.
3. Tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người
Ngay sau đó, đến nay Việt Nam đã trở thành thành viên của hầu hết các công ước quốc tế quan trọng khác liên quan đến nhân quyền như: Công ước về quyền trẻ em (1989) và hai nghị định thư bổ sung về trẻ em trong xung đột vũ trang và chống sử dụng trẻ em trong các hoạt động mại dâm và tranh ảnh khiêu dâm; Công ước về quyền của người khuyết tật (2006); Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người...
Liên quan đến việc bảo vệ quyền con người và luật nhân đạo quốc tế, Việt Nam cũng tích cực tham gia vào hầu hết các công ước như Nghị định thư bổ sung Công ước Giơ-ne-vơ về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế; Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng (1948); Công ước quốc tế về ngăn chặn và trừng trị tội ác A-pác-thai (1973); Công ước quốc tế về không áp dụng những hạn chế luật pháp đối với các tội phạm chiến tranh và tội ác chống nhân loại (1968); Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (2000)…
Sau khi trở thành thành viên Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 1994, Việt Nam đã tham gia 20 công ước về quyền lao động như Công ước về tuổi tối thiểu của trẻ em được tham gia vào lao động công nghiệp; Công ước về trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ; Công ước về không phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp; Công ước về lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc; Công ước về chính sách việc làm; Công ước về lao động hàng hải v.v.
4. Việt Nam trong thực thi các điều ước quốc tế về quyền con người
Với tất cả tinh thần trách nhiệm của mình, Việt Nam đã và đang thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ đối với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia, trong đó có nghĩa vụ nội luật hóa, xây dựng cơ chế pháp luật quốc gia phù hợp với các quy định của Công ước. Trong vòng 10 năm, từ năm 2010, Việt Nam đặt nhiều trọng tâm trong việc hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật quốc gia đặc biệt về quyền dân sự và chính trị trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử, tạo tiền đề cho việc bảo đảm và phát huy các quyền của người dân trên từng lĩnh vực cụ thể như Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020…
Hiến pháp năm 2013 đánh dấu bước tiến quan trọng của Việt Nam trong nhận thức về quyền con người cũng như trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trên tất cả các lĩnh vực. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới, trong đó bao gồm các nội dung về quyền con người, quyền công dân. Chỉ tính từ tháng 1-2014 đến nay, đã có khoảng hơn 100 luật, pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua, trong đó có nhiều luật quan trọng về quyền con người, chẳng hạn như: Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Luật Báo chí năm 2016; Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Luật An ninh mạng năm 2018; Luật Tố cáo năm 2018; Luật Đặc xá năm 2018... Các đạo luật này quy định đầy đủ, rõ ràng hầu hết các quyền dân sự và chính trị; các cơ chế bảo đảm và phát huy các quyền này tại Việt Nam...
5. Việt Nam trong thực thi các biện pháp lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm quyền con người
Việt Nam cũng nỗ lực thực thi các biện pháp lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm quyền con người; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nội dung Công ước; soạn thảo và đệ trình báo cáo quốc gia định kỳ về việc thực hiện Công ước; hợp tác quốc tế trong việc thực hiện Công ước; xây dựng các chương trình quốc gia để thực hiện những cam kết quốc tế về quyền con người. Thời gian tới, Việt Nam tiếp tục rà soát các quy định của pháp luật quốc gia về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội và quyền của các nhóm dễ bị tổn thương.
Với khối lượng công việc lớn phải đảm đương, tuy nhiên, Việt Nam luôn thể hiện sự nghiêm túc trong triển khai thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người. Điều này đã được các ủy ban theo dõi thực hiện công ước cũng như cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
Ngoài ra, Việt Nam cũng đóng góp tích cực, hiệu quả vào việc thành lập và hoạt động của Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR), xây dựng Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN. Đồng thời, chú trọng tăng cường cơ chế đối thoại và hợp tác về vấn đề quyền con người hằng năm với nhiều đối tác như: Mỹ, Thụy Sỹ, Ô-xtrây-li-a, Liên minh châu Âu (EU), Na Uy, tham gia và đóng góp tích cực tại Ủy ban liên chính phủ ASEAN về quyền con người. Trong các hoạt động hợp tác song phương cũng như tại các diễn đàn đa phương về quyền con người, Việt Nam luôn thể hiện hình ảnh tích cực, chủ động và có những đóng góp thiết thực nhằm thúc đẩy nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên tinh thần đối thoại, tăng cường hiểu biết lẫn nhau.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)