Công ty Luật Minh Khuê đã tổng hợp một số quy định hiện hành của pháp luật liên quan đến việc tính thuế thu nhập cá nhân cho người Hàn Quốc đến làm việc tại Việt Nam theo hợp đồng lao động. Lấy một ví dụ cụ thể:
Cá nhân A là người Hàn Quốc đang làm việc theo hợp đồng lao động cho công ty X, lương 1 tháng là 20.000.000đ (tiền lương, tiền công) trong đó không có người thân nào tại Việt Nam. Tính thuế thu nhập cá nhân mà cá nhân A phải đóng.
1. Cơ sở pháp lý:
2. Nội dung phân tích:
Theo quy định tại Điều 1 Thông tư 111/2013/TT-BTC thì người nộp thuế bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú.
“1. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó ngày đến và ngày đi được tính là một (01) ngày. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân khi đến và khi rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú.
Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo hướng dẫn tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam.
b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:
b.1) Có nơi ở thường xuyên theo quy định của pháp luật về cư trú
b.2) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế.
2. Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện nêu tại khoản 1, Điều này.”
Theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 111/2013/TT-BTC thì kỳ tính thuế đối với cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú được thực hiện như sau:
“1. Đối với cá nhân cư trú
a) Kỳ tính thuế theo năm: áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế được tính theo năm dương lịch.
Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Từ năm thứ hai, kỳ tính thuế căn cứ theo năm dương lịch.
2. Đối với cá nhân không cư trú
Kỳ tính thuế đối với cá nhân không cư trú được tính theo từng lần phát sinh thu nhập.
Trường hợp cá nhân kinh doanh không cư trú có địa điểm kinh doanh cố định như cửa hàng, quầy hàng thì kỳ tính thuế áp dụng như đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh.”
Về tình huống cụ thể trên, sẽ có hai trường hợp xảy ra:
2.1. Trường hợp cá nhân người Hàn Quốc A là cá nhân không cư trú tại Việt Nam.
"Điều 18. Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
1. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định bằng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công nhân (×) với thuế suất 20%.
2. Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định như đối với thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 8 Thông tư này.”
Như vậy, dẫn chiếu đến khoản 2 Điều 8 Thông tư 111/2013/TT-BTC thì thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công, tiền thù lao, các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế theo hướng dẫn tại khoản 2, Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Theo đó, cá nhân không cư trú sẽ không được tính các khoản giảm trừ theo quy định tại Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Vậy số thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người Hàn Quốc đó được tính như sau:
Thuế TNCN = thu nhập chịu thuế X 20
= 20.000.000đ X 20%
= 4.000.000đ
Như vậy, số thuế thu nhập cá nhân phải nộp đối với người Hàn Quốc này sẽ là 4.000.000 đồng.
2.2. Trường hợp người Hàn Quốc A là cá nhân cư trú
Sau khi đã đáp ứng đủ điều kiện về cá nhân cư trú thì sẽ có hai trường hợp sau:
-Trường hợp hai người Hàn Quốc đó có hợp đồng lao động từ 03 (ba) tháng trở lên: thì thực hiện việc tính thuế bình thường cho người Hàn Quốc này Theo quy định tại Thông tư 111/2013/TT-BTC. Đối với trường hợp này sẽ tính đến các chi phí được trừ và các khoản giảm trừ gia cảnh. Mức thuế suất sẽ áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại thông tư 111/2013/TT-BTC.
Cụ thể:
Thu nhập chịu thuế TNCN = 20. 000.000 đ
Thu nhập tính thuế TNCN = 20.000.000đ - 9.000.000đ = 11.000.000đ
Thuế TNCN = 11.000.000đ x 15% - 0,75 triệu = 900.000đ
-Đối với trường hợp mà công ty không ký hợp đồng với người Hàn Quốc này hoặc ký hợp đồng dưới 03 (ba) tháng thì thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương tiền công được tính Theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC như sau:
“i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác
Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.
Cụ thể:
Thuế TNCN = 20.000.000 đ x 10% = 2.000.000 đ
Bạn đang theo dõi bài viết Tính thuế thu nhập cá nhân của người Hàn Quốc làm việc tại Việt Nam ? được biên tập trên trang web của Luật Minh Khuê. Nếu có thắc mắc hay cần hỗ trợ tư vấn pháp luật từ các Luật sư, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ hiệu quả và tối ưu nhất.
Trân trọng./.
Chuyên viên tư vấn: Nguyễn Quỳnh - Bộ phận tư vấn luật thuế - Công ty luật MInh Khuê