1. Tính toán bồi thường thiệt hại trong tranh chấp hợp đồng ?

Tranh chấp giữa một Cty Pháp (người mua) và một Cty Italia (người bán). Do hàng hóa người bán giao không phù hợp với hợp đồng, người mua hủy hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại. Hai bên tranh cãi về số tiền bồi thường. Tranh chấp được xét xử tại Tòa Phúc thẩm tại thành phố Rennes (Pháp), bản án ngày 27/05/2008. Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (cụ thể là các điều 25, 35, 47, 49, 75 và 77) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Một trong những vấn đề khó khăn và hay gây tranh cãi trong các tranh chấp, đó là việc tính toán số tiền bồi thường thiệt hại mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm. Để đòi bồi thường thành công, các bên cần phải lưu ý tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản.

Diễn biến tranh chấp

Cty Pháp đã ký với Cty Italia một số hợp đồng mua miếng lót ngực để sản xuất áo bơi với tổng số lượng là 17.600 đôi. Hàng hóa được giao đến cho một Cty Tunisie để gia công. Trong quá trình gia công, người mua phát hiện ra các miếng lót ngực không phù hợp với yêu cầu về chất lượng đã được quy định trong hợp đồng và trả lại hàng. Ngày 3/11/2003, người bán Italia đề nghị sẽ sửa chữa hàng hóa và sẽ giao hàng hóa phù hợp trong thời gian 5 tuần. Tuy vậy, người bán đã không thực hiện được việc sửa chữa hàng hóa trong thời gian nói trên. Ngày 11/12/2003, người mua tuyên bố hủy hợp đồng và đòi người bán bồi thường 32.490 eur, bao gồm 2 khoản sau:

1. Chi phí sản xuất lô áo bơi tại Tunisie từ miếng lót ngực không đạt chất lượng: 16.290 eur (1800 áo x chi phí 9,05 eur/áo)

2. Thiệt hại (do chênh lệch giá) khi mua miếng lót ngực để thay thế. Cty người mua, vào tháng 12/2003 đã phải đặt hàng mua gấp 16.200 đôi miếng lót ngực từ một nhà cung cấp T khác và vì mua gấp cũng như không có vị thế đàm phán nên phải chấp nhận mức giá cao hơn 1 eur so với mức giá trong hợp đồng, dẫn đến thiệt hại là 16.200 eur.

Người bán phản đối các khoản bồi thường nói trên và cho rằng các khoản này là không hợp lý.

Phán quyết của Tòa án:

Tòa án cho rằng hợp đồng được điều chỉnh bởi Công ước Vienna năm 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) vì cả Pháp và Italia đều là thành viên của Công ước này.

Tòa áp dụng các điều 25, 35, 47 và 49 CISG để khẳng định trong trường hợp này, người mua có quyền hủy hợp đồng do người bán đã vi phạm cơ bản hợp đồng và không thể sửa chữa hàng hóa trong khoảng thời gian mà người mua đã gia hạn thêm.

Về các khoản mà người mua đòi bồi thường, tòa án lập luận như sau:

Khoản 1: Theo các thư từ trao đổi giữa các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp, vào thời điểm phát hiện ra sự không phù hợp của hàng hóa, mới có 860 đôi miếng lót ngực được đưa vào sản xuất. Tuy vậy, phải đợi 3 ngày sau thì Cty người mua mới cho lệnh dừng dây chuyền sản xuất áo bơi tại Tunisie, làm cho số lượng áo bơi được sản xuất tăng lên 1800. Tòa dẫn chiếu đến điu 77 CISG liên quan đến nguyên tắc hạn chế tổn thất, theo đó, bên bị vi phạm phải áp dụng những biện pháp hợp lý căn cứ vào các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất do sự vi phạm hợp đồng gây ra.

Tòa cho rằng, trong trường hơp này, đáng lẽ người mua phải hành động nhanh chóng hơn để giảm bớt thiệt hại. Hơn nữa, chi phí sản xuất áo bơi (9,05 eur/áo) do người mua tính là chưa hợp lý vì chi phí nhân công trung bình để sản xuất áo bơi tại Tunisie thấp hơn ở Pháp rất nhiều, chỉ khoảng 1 eur/áo. Với những lập luận đó, Tòa án cho rằng người mua chỉ được đòi bồi thường thiệt hại số tiền là 3.000 eur.

Khoản 2: Để xem xét khoản thiệt hại do mua hàng thay thế, tòa án áp dụng điều 75 CISG: Khi hợp đồng bị hủy và nếu bằng một cách hợp lý và trong một thời hạn hợp lý sau khi hủy hợp đồng, người mua đã mua hàng thay thế hay người bán đã bán lại hàng thì bên đòi bồi thường thiệt hại có thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thay thế hay bán lại hàng. Khi so sánh giá một đôi miếng lót ngực theo hợp đồng là 0,93 và 0,98 eur và giá mua thay thế là 1,98, tòa án thấy rằng chênh lệch giá là quá lớn và bất hợp lý. Tòa cho rằng, việc mua hàng thay thế vì thế đã không đáp ứng được yêu cầu về tính hợp lý được quy định tại điều 75 CISG. Vì thế, khoản thiệt hại này bị tòa bác bỏ.

Tòa án ra phán quyết rằng người mua chỉ đòi được 3.000 eur chứ không phải là 32.490 eur.

Bài học kinh nghiệm

Tranh chấp này cho thấy, để đòi bồi thường thiệt hại thành công, bên bị vi phạm phải tuân thủ hai nguyên tắc rất quan trọng sau đây:

Thứ nhất, nguyên tắc hạn chế tổn thất. Theo đó, bên đòi bồi thường thiệt hại phải áp dụng những biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất. Trong trường hợp này, một cách hợp lý, người mua Pháp đáng lẽ có thể hạn chế đáng kể thiệt hại bằng cách ngừng ngay dây chuyền sản xuất khi phát hiện sự không phù hợp của hàng hóa.

Thứ hai, nguyên tắc các khoản thiệt hại phải được tính toán và chứng minh một cách hợp lý. Nguyên tắc này không cho phép các bên thổi phồng thiệt hại của mình lên một cách vô căn cứ, bất hợp lý. Trong tranh chấp này, tòa án đã dựa vào giá hàng, giá nhân công cũng như mức giá của thị trường để nhận định rằng các thiệt hại mà người mua tính toán là bất hợp lý, không khách quan, không phù hợp với thực tiễn.

Cả hai nguyên tắc này đều được ghi nhận bởi pháp luật hợp đồng thương mại của VN (Điều 302 và 305 Luật Thương mại 2005). Như vậy, các nguyên tắc về đòi bồi thường thiệt hại của VN và CISG là khá tương thích và vì vậy, các DN VN có thể tham khảo các tranh chấp về CISG để rút ra bài học kinh nghiệm cho mình.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Mẫu đơn khởi kiện cập nhật mới nhất năm 2020 và hướng dẫn cách viết đơn khởi kiện

2. Quyền thừa kế đất đai phân chia thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ông nội và ba nội đã qua đời nhưng ko để lại di chúc mà ba tôi cũng qua đời trước bà nội tôi. Hồi đó ba tôi ở chung với ông bà tôi lúc đẻ tôi ra được 3 tuổi ba tôi qua đời ..Rồi một thời gian cô ba tôi.
Có ngôi nhà như bị thiếu nợ nên bị người ta lấy nhà nên không có nhà ở nên cô ba tôi xuống ở với mẹ con tôi lúc đó bà nội còn sống ở, một thời gian cô ba kiếm chuyện đuổi mẹ con tôi đi lên nhà ngoại ở, nghe tin bà nội tôi chết mẹ mới xuống ở căn nhà ba tôi hồi đó đã cưới mẹ tôi và sinh ra tôi cô ba mới năn nỉ cho cô ba ở tới khi tôi 18t cô sẽ đưa lại căn nhà mà giờ tôi 20t cô ba không thực hiện lời hứa, bên cạnh đó có một miếng đất chưa có ai đứng tên. Hỏi luật sư vậy tôi có được phân chia tài sản hay không ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Ông bà nội bạn trước khi mất không để lại di chúc vì thế di sản là mảnh đất kia được chia theo pháp luật, căn cứ tại khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Đối với bạn, bạn sẽ được phân chia di sản. Theo Điều 652 BLDS năm 2015:

Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Ba của bạn qua đời trước vì thế mà theo điều khoản này, bạn sẽ được hưởng phần di sản mà ba của bạn được hưởng nếu còn sống.

Phần di sản mà ba của bạn được hưởng như sau:

Gia đình bà nội bạn có 2 người con là ba của bạn và cô của bạn. Hai người họ thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, ba của bạn và cô của bạn mỗi người sẽ được một nửa mảnh đất. Vì ba của bạn đã mất nên phần di sản là nửa mảnh đất này sẽ thuộc về bạn

Riêng đối với mảnh đất mà chưa có ai đứng tên, vì thông tin về thời gian bạn cung cấp chưa đủ nên chúng tôi xin được dẫn chiếu điều luật để bạn có thể tham khảo như sau: tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013:

Điều 101. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Bạn có thể đối chiếu trường hợp của mình, và xem xét các giầy tờ chứng minh việc sử dụng mảnh đất đó lâu dài của ông bà bạn để cơ quan có thẩm quyền xem xét và cấp giấy chứng nhận. Đối với mảnh đất này, nếu chứng minh được đó là thuộc sở hữu của ông bà bạn thì mảnh đất này cũng được chia đôi cho bạn và cô của bạn

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

3. Có phải chia lại đất theo luật đất đai và luật dân sự không ?

Thưa Luật sư! Ông bà nội tôi có 2 người con gồm: 1 bác gái và bố tôi. Bác gái tôi và bố tôi đã lập gia đình riêng. Bà nội tôi mất từ năm 1990, còn Ông nội tôi thì mất ngày 18/02/2015 và có để lại cho bố tôi 1 mảnh đất gồm đất ở và đất vườn tạp mà gia đình tôi vẫn ở và sinh sống.
Năm 1997, bố tôi có làm trích lục đất mang tên người sở hữu là bố tôi cho mảnh đất này bao gồm 200m2 đất ở và 400m2 đất vườn tạp. Nay bác gái tôi về đòi chia đất để bán. Xin luật sư cho tôi biết:
1. Mảnh đất gia đình tôi đang ở có phải chia phần cho bác gái tôi theo luật đất đai và luật thừa kế hiện nay không ?
2. Nếu phải chia đất cho bác tôi, thì làm cách nào để gia đình tôi không phải chia đất khi ra tòa án ?
Xin chân thành cảm ơn!

Có phải chia lại đất theo luật đất đai và luật dân sự không ?

Tổng đài tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến (24/7) gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn đề cập thì từ năm 1997 bố bạn trích lục đất hay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) mang tên bố bạn, thế nhưng ông nội bạn mất ngày 18/02/2015. Nay bác gái bạn đòi đất thì cần xem xét các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Có hợp đồng tặng cho giữa ông nội và bố bạn trước khi bố bạn làm GCNQSDĐ vào năm 1997. Với trường hợp này, cùng điều kiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo đúng thẩm quyền được quy định thì Giấy chứng nhận mà bố bạn được cấp là hợp pháp, bác gái bạn không có quyền đòi chia mảnh đất.

Trường hợp 2: Không có hợp đồng tặng cho giữa ông nội và bố bạn trước khi bố bạn làm GCNQSDĐ vào năm 1997.

Nếu không có hợp đồng tặng cho thì việc bố bạn làm GCNQSDĐ đứng tên mình là không hợp pháp, vì khi ấy ông nội bạn vẫn còn sống, nếu không có yêu cầu gì khác thì GCNQSDĐ mang tên ông nội bạn. Do bạn chưa đề cập cụ thể khi ông mất có để lại di chúc hay không, nếu ông nội không để lại di chúc thì mảnh đất này trở thành di sản thừa kế và phần di sản này sẽ được chia theo pháp luật căn cứ theo điều 650 Bộ luật Dân sự 2015:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Phần di sản được thừa kế được chia theo quy định tại điều 651 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

>> Xem thêm:  Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ? Thủ tục mua bán, tách sổ của lô đất ?

4. Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai khởi kiện tại tòa án ?

Thưa luật sư, tôi có một thắc mắc, kính mong Công ty luật tư vấn và giải đáp giúp tôi tình huống sau: Nhà tôi có một miếng đất sát nhà bà A và đất đó nhà tôi có giấy tờ đầy đủ, bà A bán đất phần đất của bà A cho ông B. Nhưng tôi không hiểu vì sao ông B lại cho công nhân qua phần đất nhà tôi cuốc đất làm thiệt hại cây trồng của nhà tôi.
Sau đó nhà tôi có nhắc nhở bên ông B là không được làm vậy. Bên ông B có nói là bên ông B đã mua của bà A, nếu nhà tôi có thắc mắc gì thì tìm bà A mà giải quyết. Vì nhà tôi không liên quan gì nên nói bên ông B đi hỏi bà A, riêng phần đất nhà tôi không cho bên ông B làm nữa, bên ông B đã lên tiếng phần đất nhà tôi là của nhà tôi không mất đâu mà sợ. Sau đó bên ông B đã kiện bà A lên phường nhờ phường can thiệp nhưng tại phường bà A quả quyết chỉ bán và bàn giao phần đất của bà A thôi. Và đồng thời bên ông B có cho nhân viên tới nhà tôi thương lượng giá cả để mua phần đất còn lại của nhà tôi nhưng vì không thỏa thuận được giá cả nên nhà tôi chưa đồng ý bán cho bên ông B. Sau đó nhà tôi nhận được điện thoại bên ông B kiện ngược lại nhà tôi để đòi lại phần đất, mà nhà tôi đâu có lấy đất gì của bên ông B và không có bán lấy tiền mà không giao đất đâu mà kiện?
Tôi kính mong luật sư giải đáp trong tình huống đó nhà tôi phải làm gì? Chờ hầu tòa hay sao? Và có nên kiện lại bên ông B không?
Tôi mong luật sư sớm có câu trả lời giúp nhà tôi. Tôi trân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 4 và Điều 5 Luật đất đai năm 2013 thì khi gia đình bạn được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất thì gia đình bạn là người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai và được Nhà nước trao quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Như vậy, gia đình bạn có quyền sử dụng đối với mảnh đất đó, được pháp luật ghi nhận. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy tờ có giá thể hiện quyền sử dụng của gia đình bạn đối với mảnh đất đó. DO đó, việc ông B kiện nhà bạn để đòi lại mảnh đất đó là không có căn cứ pháp luật. Trong trường hợp ông B kiện gia đình bạn thì ông B phải có nghĩa vụ chứng minh việc khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, do đó gia đình bạn không phải lo lắng về vấn đề này.

Về việc có nên kiện lại ông B hay không,chúng ta cần xem xét hành vi vi phạm pháp luật của ông B. Theo như tình huống bạn nêu ra thì ông B lại cho công nhân qua phần đất nhà tôi cuốc đất làm thiệt hại cây trồng của nhà bạn, do đó, bạn có thể chứng minh những thiệt hại do hành vi đó của ông B mang lại đã gây những hậu quả gì cho gia đình bạn, theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Qua đó yêu cầu ông B bồi thường, nếu ông B không bồi thường thì bạn có thể kiện ra Tòa án yêu cầu ông B bồi thường thiệt hại cho mình. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?

5. Tư vấn về việc đấu giá đất đai để trả nợ ?

Nhà mợ em có cho gia đình nhà ông H vay số tiền là 50 triệu và đã trả được 22 triệu nhưng sau một khoảng thời gian khá lâu ,mà không thấy ông H trả số tiền còn lại nên mợ e đã kiện ra Tòa án nhân dân Huyện và Tòa án đã yêu cầu nhà ông H trả số tiền đó cho gia đình mợ em.

Đến nay, nhà ông H vẫn còn nợ gia đình mợ e số tiền 28 triệu và chưa tính lãi. Tòa án đã ra quyết định cưỡng chế là đấu giá một mảnh đất nhà ông H trị giá 92 triệu để trả số nợ còn lại cho mợ e. Lần đấu giá thứ nhất diễn ra cách đây 3 tháng nhưng không có người mua, lần đấu giá thứ 2 sắp diễn ra và giá trị mảnh đất được thông báo là còn 82 triệu.

Vậy, em muốn hỏi:

1.Nếu lần 2 đấu giá vẫn k có người mua thì có được đấu giá lần thứ 3 không? Và nếu có lần thứ 3 thì giá trị mảnh đất sẽ giảm bao nhiêu?

2. Gia đình mợ em làm thế nào để lấy được số tiền còn lại?

Em xin trân thành cảm ơn và kính mong sớm có câu trả lời từ quý công ty!

Tư vấn về việc đấu giá đất đai để trả nợ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trả lời:

1. Nếu lần 2 đấu giá vẫn k có người mua thì có được đấu giá lần thứ 3 không? Và nếu có lần thứ 3 thì giá trị mảnh đất sẽ giảm bao nhiêu?

Căn cứ vào Điều 52 Luật Đấu giá tài sản 2016 quy định bán đấu giá tài sản quy định Tổ chức bán đấu giá lại:

Điều 52. Đấu giá không thành

1. Các trường hợp đấu giá không thành bao gồm:

a) Đã hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá;

b) Tại cuộc đấu giá không có người trả giá hoặc không có người chấp nhận giá;

c) Giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp không công khai giá khởi điểm và cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên;

d) Người trúng đấu giá từ chối ký biên bản đấu giá theo quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này;

đ) Người đã trả giá rút lại giá đã trả, người đã chấp nhận giá rút lại giá đã chấp nhận theo quy định tại Điều 50 của Luật này mà không có người trả giá tiếp;

e) Trường hợp từ chối kết quả trúng đấu giá theo quy định tại Điều 51 của Luật này;

g) Đã hết thời hạn đăng ký mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá trong trường hợp đấu giá tài sản quy định tại Điều 59 của Luật này.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày cuộc đấu giá không thành, tổ chức đấu giá tài sản trả lại tài sản, giấy tờ liên quan đến tài sản đấu giá cho người có tài sản đấu giá, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Việc xử lý tài sản đấu giá không thành được thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc đấu giá lại theo thỏa thuận giữa người có tài sản đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản.

Và căn cứ vào Điều 104 Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 của Quốc hội (sửa đổi 2014): Xử lý tài sản bán đấu giá không thành

"Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm giá không quá mười phần trăm giá đã định.

Trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án."

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành thì không quy định về số lần bán đấu tài sản trong năm để đảm bảo cho việc thi hành án. Tài sản sẽ được bán đấu giá cho đến khi giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án.

2. Gia đình mợ em làm thế nào để lấy được số tiền còn lại ?

Để lấy được số tiền còn lại giờ bạn phải chờ vào kết quả của việc bán đấu giá miếng đất của ông H. Nếu tài sản được bán đấu giá cho đến khi giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà mợ bạn không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho ông H. Lúc này Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cưỡng chế bằng cach đấu giá tài sản khác để trả tiền cho mợ bạn.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật thừa kế - Công ty luật MInh Khuê

>> Xem thêm:  Cách xác định tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?