1. Khái quát Tổ chức Thuế quan Thế giới (WCO)

Tiền thân của Tổ chức Thuê quan Thê giới là Hội đồng Hợp tác Thuế quan được thành lập năm 1952. Đây là một cơ quan độc lập liên chính phủ có thành viên là các nước trên phạm vi toàn thế giới với nhiệm vụ nâng cao hiệu quả và hiệu suất quản lý thuế quan. Năm 1994, Hội đồng có tên gọi giao dịch không chính thức là Tổ chức Thuế quan Thế giới -WCO với mục đích nêu bật đặc điểm và vị thế toàn cầu của cơ quan này.

2. Lĩnh vực nghiên cứu của Tổ chức Thuế quan Thế giới (WCO)

Nhìn chung, WCO phải nghiên cứu tất cả các vấn đề liên quan tới sự phối hợp hoạt động trong ngành thuế quan, như:

- Xem xét các khía cạnh kỹ thuật của các hệ thống thuế quan cùng các yếu tố kinh tế liên quan nhằm mục đích đề nghị các giải pháp thực tế để đạt được tính.hài hoà và nhất quán cao nhất;

- Soạn thảo các công ước thuế quan,

- Đề xuất các khuyến nghị để bảo đảm sự diễn giải và áp dụng thống nhất các công ước thuế quan,

- Đề xuất các khuyên nghị, trong khả năng hoà giải của mình, để giải quyết các tranh chấp liên quan đến sự diễn giải và áp dụng các công ước thuê quan (tuy nhiên WCO không phải là toà án và không thể đứng về một bên nào của vụ tranh chấp),

- Chủ động hoặc theo yêu cầu cung cấp thông tin và tư vấn về thuế quan cho các chính phủ có nhu cầu,

- Hợp tác với các Tổ chức liên Chính phủ khác về những vẫn đề thuộc thẩm quyền của mình.

3. Đánh giá Tổ chức Thuế quan Thế giới (WCO)

Tổ chức Thuế quan Thế giới (WCO) là tổ chức quốc tế duy nhất hoạt động riêng biệt trong lĩnh vực thuế quan và tạo ra một diễn đàn cho nhiều đại biểu của đại đa số thành viên tham gia có thể giải quyết các vấn đề thuế quan một cách bình đẳng. Mỗi một thành viên có một đại diện với một phiếu bầu.

Tổ chức Thuế quan Thế giới (WCO) đưa ra cho các thành viên một loạt các công ước và nhiều công cụ quốc tế khác, trong đó quan trọng nhất là Công ước về Hệ thống Mã hoá và Mô tả hàng hoá hài hoà (1998) và Công ước Quốc tế về Đơn giản và Hài hoà hóa các thủ tục thuế quan (Công ước Tokyo-1974/ 1999)

Tình trạng trên đã biến đổi nhiều nhờ kết quả của câc cố gắng đạt được trong khuôn khổ GATT/WTO. Với 8 vòng đàm phán, kết thúc bằng Vòng đàm phấn Urugoay, thuế quan nhìn chung đã được cách giảm một cách mạnh mẽ và liên tục. Năm 1948 mức thuế quan trung bình là gần 40%, nhưng sau Vòng Urugoay chỉ còn dưới 5 %. Bên cạnh đó tỷ lệ phần trăm chung của mức thuế bắt buộc cũng đã tăng lên mạnh mẽ theo thời gian và đặc biệt là sau Vòng Urugoay. Các hạn chế định lượng trong ngành nông nghiệp bị tuyên bố là không họp pháp trong Vòng Urugoay nên đã được thay thế bằng thuế quan (còn gọi là thuế quan hoá) tuy vẫn còn một số ngoại lệ.

Nhờ kết quả của Vòng Đàm phám Urugoay tất cả các thành viên WTO đã chấp nhận mức thuế nông sản. Đối với hàng hoá công nghiệp, 98% thuế đã được các nước công nghiệp phát triển và các nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi chấp nhận trong khi con số các nước đang phát triển chấp nhận là 73%.

Mặc dù thuế quan hiện nay ở mức thấp đối với nhiều nước thành viên WTO, nhưng chúng vẫn còn tồn tại và mức trung bình thấp đôi khi ẩn dấu sự thực rằng đối với một số nhóm mặt hàng mức thuế này vẫn còn là rào cản chủ yếu đối với thương mại (thường được gọi là các đỉnh thuế). Chính vì vậy Tổ chức Thương mại Thế giới thừa nhận một thực tế một số nước thành viên có thể theo đuổi việc dỡ bỏ thuế quan nhiều hơn nữa trong các hiệp định hội nhập khu vực, nhưng vẫn đưa ra một số yêu cầu nhất định đối với các hiệp định đó. Uỷ ban về các Hiệp định Thương mại Khu vực của WTO đang rà soát những hiệp định này và đánh giá sự phù họp của chúng đối với các quy định của WTO.

4. Khái niệm thuế quan và thuế

a. Thuế quan

Thuế quan là lĩnh vực quan trọng được cộng đồng thương mại quốc tế quan tâm, WTO và các khối liên kết kinh tế quan tâm quy định tương đối chi tiết để áp dụng trong lĩnh vực thương mại hàng hóa.

- Thuế quan được hiểu là khoản thu của nhà nước tính vào hàng hóa khi hàng hóa đó di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác, nhằm tăng nguồn thu ngân sách quốc gia và bảo hộ hàng hóa tương tự, ngành kinh tế hàng hóa tương tự trong nước.

- Thuế quan cũng còn được hiểu là danh mục thuế quan, tức là danh mục HS quốc gia được xây dựng trên cơ sở danh mục HS quốc tế mà trong đó trên mỗi dòng HS quốc gia có ghi rõ các mức thuế suất nhập khẩu cụ thể của mỗi dòng HS (Dòng thuế quan). Những vấn đề quan trọng liên quan tới thuế quan mà các nước thường quan tâm bao gồm danh mục thuế quan, mức thuế trần và lộ trình giảm thuế quan.

Đối với các vấn đề này cần chú ý những điểm dưới đây:

Thứ nhất, đối với danh mục thuế quan, mỗi nước có danh mục thuế quan của riêng mình và được công bố rộng rãi cho mọi người liên quan thực hiện. WTO từ khi thành lập đã có hơn 22.500 trang danh mục thuế quan cam kết của các nước đối với một số loại hàng hóa cụ thể được thỏa thuận trong khuôn khổ WTO, nhất là các cam kết giảm thuế và mức thuế trần đối với hàng hóa nhập khẩu, ASEAN/AFTA cũng có danh mục thuế quan cam kết của các nước thành viên, trong đó có danh mục cam kết của Việt Nam cắt giảm thuế quan trong khuôn khổ thỏa thuận CEPT/AFTA. Nhìn chung, trong các danh mục thuế quan này, trong một số trường hợp, thuế quan được giảm xuống bằng không.

Thứ hai, đối với mức thuế "trần", các danh mục mở cửa thị trường không chỉ đơn giản là những barem về thuế quan. Chúng chính là cam kết không tăng thuế vượt quá mức đã được xác định được gọi là mức "trần", thường là mức thuế đang được áp dụng trên thực tế. Có nhiều mức thuế "trần" khác nhau. Đa số các nước đang phát triển thường có mức thuế "trần" cao hơn một chút so với các nước mức thuế đang áp dụng. Luật thương mại quốc tế có quy định ngoại lệ đối với quy tắc nói trên tức có thể chấp nhận cho phép một nước có thể phá bỏ mức thuế trần. Nhưng để làm được điều này, nước đó phải đàm phán với các nước liên quan và có thể bị buộc phải bồi thường thiệt hại thương mại cho các đối tác liên quan.

Thứ ba, về lộ trình giảm thuế quan, kết quả vòng đàm phán Uruguay về việc thành lập WTO cho thấy các nước phát triển chấp nhận giảm từng bước hàng rào thuế quan trong vòng 5 năm kể từ ngày 1/1/1995. Ngày 26 tháng 3 năm 1997, trong khuôn khổ WTO, 40 nước chiếm hơn 92% giá trị buôn bán toàn cầu các sản phẩm công nghệ thông tin đã thỏa thuận giảm thuế nhập khẩu và các loại thuế khác đánh vào các sản phẩm này đến năm 2000 (đến năm 2005 đối với một số ít trường hợp). Mỗi nước tham gia thỏa thuận phải áp dụng thống nhất cam kết của mình đối với hàng hóa nhập khẩu của tất cả các nước thành viên WTO, phù hợp với nguyên tắc tối huệ quốc.

Có một thời gian dài thuế quan và các hạn chế định lượng là công cụ chính sách thương mại chủ yếu của các nhà hoạch định chính sâch quốc gia. Thuế quan có tác dụng kép, vừa để tăng nguồn thu, vừa để giúp thực hiện một só mục tiêu về chính sách nội địa: trong trường hợp như thuế nhập khẩu bảo vệ nhà sản xuất trong nước và thuế xuất khẩu nhằm đảm bảo an toàn về cung cấp của một số nguồn lực khan hiếm trong nước. Biện pháp hạn chế định lượng từng là một công cụ hiệu nghiệm để đạt một số mục tiêu về chính sâch.

Trong khi thuế nhập khẩu cao có tác dụng làm nản chí các nhà sản xuất nước ngoài vì tăng giá sản phẩm của họ tại nước nhập khẩu, thì hạn ngạch hoặc giới hạn tổng khối lượng nhập khẩu có thể ngăn chặn một cách có hiệu quả việc nhập khẩu một sản phẩm nào đó.

b. Thuế

Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật.

- Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước – pháp luật.

Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định.

- Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành.

Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành qũy ngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế – xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơ quan lập pháp. Ðây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của các nước. Chẳng hạn ở nước Anh đạo Luật về dân quyền năm 1688 quy định: cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu không được Quốc hội chấp thuận. ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứ một khoản thuế nào nếu không được Quốc hội chấp thuận thì không được áp dụng. Hiến pháp của nước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy định Quốc hội Pháp có quyền biểu quyết và định đoạt các Luật thuế.

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế. Tuy vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thể giao cho Uớy ban Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một số loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế.

- Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội.

Nhà nước thu thuế làm phát sinh quan hệ phân phối giữa Nhà nước với các thể nhân và pháp nhân trong xã hội. Ðối tượng của quan hệ phân phối này là của cải vật chất được biểu hiện dưới hình thức giá trị.

Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử, đặc điểm của phương thức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến vai trò, nội dung, đặc điểm của thuế. Do đó, cơ cấu và nội dung của cả hệ thống pháp luật thuế và từng Luật thuế phải được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung, cải tiến và đổi mới kịp thời nhằm thích hợp với tình hình, nhiệm vụ của từng giai đoạn. Ðồng thời phải tổ chức bộ máy phù hợp, đủ sức đảm bảo thực hiện các quy định pháp luật về thuế đã được Nhà nước ban hành trong từng thời kỳ.

=> Kết luận: Chúng ta cần phải nhắc lại khái niệm thuế quan và thuế có ý nghĩa khác nhau trong các bối cảnh quan hệ thương mại, phụ thuộc vào từng hoạn cảnh cho nên, những giải thích sau có thể giúp ích. “ Thuế suất ràng buộc/thuế quan nói đến hạn ngạch thuế và thuế quan ấn định ở một mức nào đó phù hợp với những cam kết của một thành viên GATT/ WTO. Chúng được sử dụng làm điểm xuất phát cho các cam kết giảm hoặc bỏ những cam kết xuất phát từ các cuộc đàm phán thương mặi đa phương hoặc đàm phán gia nhập WTO. Trong khái niệm “mức thuế quan quốc gia” một số khái niệm sau có thể xếp cùng nhóm (1) mức MFN được áp dụng bởi một quốc gia ;(2) mức ưu đãi áp dụng đơn phương theo các chương trình trong Hệ thống ưu đãi chung (GSP); (3) mức thuế ưu đãi áp dụng phù hợp với các hiệp định thương mậi (mức cam kết). Thông thường thuế MFN và dĩ nhiên là thuế ưu đãi đều thấp hơn mức thuế ràng buộc và hạn ngạch thuế quan theo GATT/WTO.

5. Kết thúc vấn đề

Mặc dù có những chuyển biến trên, nhưng không thể cho rằng thuế quan không còn quan trọng nữa. Nhờ tính minh bạch và tác dụng định lượng được cũng như dự báo được, thuế quan đã được trao cho vai trò thay thế những hạn chế định lượng trong ngành nông nghiệp trong WTO. Thuế quan được coi là sự đáp ứng hợp pháp trong trường hợp áp dụng các biện pháp bảo vệ và trong hình thức thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng. Đối với nhiều nước đang phất triển thuế quan vẫn có vai trò quan trọng để tăng nguồn thu.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên soạn).