1. Tội danh của việc cho vay nặng lãi mới nhất ?

Thưa luật sư , hiện tại nhà tôi đang bị 1 bên cho vay nặng lãi đến nhà đòi nợ và đe dọa. Theo như họ nói thì người vay là vợ của em trai tôi , với mức tiền là 30 triệu đồng và lãi hàng tháng là 4 triệu đồng.

Em trai tôi không hề biết gì về khoản nợ này và hiện tại người đứng tên khoản nợ đã không còn liên quan gì đến gia đình nhà tôi vì cô ấy đã sang hàn quốc làm việc và cắt đứt mọi liên lạc với nhà tôi. Vào đêm hôm qua ngày 6/6/2018 bên cho vay nặng lãi đã đến và đáp mắm tôm , sơn , dầu nhớt vào hết cửa và sân nhà tôi. Họ còn nói : " mẹ vay mà trốn nợ thì tội sẽ xử hết 2 đứa con " hỏi luât sư gia đình tôi hiện phải làm những điều gì và có thể trình báo công an đưa đơn kiện hay không và bên cho vay nặng lãi với lãi suất như thế có là vi phạm pháp luật hay không ?

Xin cảm ơn luật sư.

Tội danh của việc cho vay nặng lãi mới nhất ?

Luật sư tư vấn quy định về tội cho vay nặng lãi, gọi ngay: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất: Về mức lãi suất cho vay.

Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về lãi suất vay như sau:

''1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Như vậy, trường hợp của bạn lãi suất do các bên thỏa thuận và không được vượt quá: 20%/ năm của khoản tiền vay

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 20% : 12 tháng = 1,666%/tháng

Nếu em dâu bạn vay nợ 30 triệu với mức lãi là 4 triệu như vậy là không đúng, Với quy định về lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng là 1,666% như trên, thì mức lãi mà em dâu bạn phải chịu chỉ là : 30,000,000 x 1,666% = 499,800 đ / tháng.

Cho nên chủ nợ đến đòi lãi tận 4 triệu/ tháng là trái pháp luật.

Kể cả 2 bên cho vay và bên vay có thỏa thuận trước về mức lãi, những cũng không được vượt quá 20% khoản tiền cho vay/ năm, tính ra không quá 1,666% /tháng.

Lãi 4 triệu trên tổng số tiền vay là 30 triệu, tính ra là 13,33%/ tháng, tăng gấp 8 lần, đây là mức lãi quá cao so với quy định pháp luật.

Thứ hai, quy định của bộ luật hình sự

Theo quy định Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định như sau:

''1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.''

Lãi suất suất cao nhất mà pháp luật quy định trên tháng là: 5 lần x 1,666% = 8,33% (mức lãi suất bạn áp dụng cho vay là 4%/tháng).

Như vậy, khi mức lãi suất cao hơn lãi suất cao nhất pháp luật quy định 5 lần trở lên thì cầu thành tội cho vay nặng lãi theo pháp luật hình sự.

Chủ nợ cho em vợ bạn vay lãi với hành vi cho vay với mức lãi cao chót vót đã cấu thành tội cho vay lãi.

Thứ ba, Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014

Theo quy định tại điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về nghĩa vụ chung tài sản của vợ chồng thì các nghĩa vụ sau đây sẽ dùng tài sản chung của cả hai để giải quyết:

"1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan".

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định tại điều 27 Luật HN&GĐ về trách nhiệm liên đới của vợ chồng:

"1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này".

Trong trường hợp này, em trai bạn không biết về việc vợ mình có vay tiền để làm ăn (nghĩa là không có sự thỏa thuận giữa 2 vợ chồng về việc vay nợ và sử dụng số tiền này) và việc vay tiền của em dâu bạn cũng không phải là quan hệ đại diện giữa vợ và chồng theo quy định tại điều 24, 25, 26 Luật HN&GĐ2014 nên tài sản chung của vợ chồng sẽ không được dùng để thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ theo quy định tại điều này và khi ly hôn em trai bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ riêng của em dâu bạn.

Hoặc, theo quy định tại điều 30 Luật HNGĐ nếu việc vay tiền của em dâu bạn để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình theo nhận định của cơ quan Tòa án thì em trai bạn cũng sẽ chịu trách nhiệm liên đới đới với khoản nợ này:

"Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình".

Nếu tài sản vay nợ đó không nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì em trai bạn không phải chịu trách nhiệm với số tiền này.

Thứ 4, Còn hành vi ném mắm tôm, sơn, rác vào nhà là hành vi vi phạm pháp luật.

Hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 1- 2 triệu đồng theo điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

Với lỗi vi phạm như đổ, ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc, nơi sản xuất, kinh doanh của người khác, người có hành vi vi phạm trên sẽ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là "buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu".

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

2. Lãi suất bao nhiêu thì được coi là cho vay nặng lãi ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi muốn hỏi về tội cho vay nặng lãi theo pháp luật hiện hành, vào cho vay với lãi suất bao nhiêu thì được coi là cho vay nặng lãi ? Xin cám ơn công ty.

Quy định của pháp luật hiện hành về tội cho vay nặng lãi ? Lãi suất bao nhiêu thì được coi là cho vay nặng lãi ?

Luật sư tư vấn về mức lãi suất cho vay, gọi ngay: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, về mức lãi suất cho vay, căn cứ điều 468 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về lãi suất như sau:

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Luật quy định mức lãi suất cho các bên tự thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Trường hợp bên cho vay yêu cầu mức lãi suất lớn hơn mức 20%/năm thì được coi là cho vay nặng lãi.

Ngoài ra, Bộ luật Dân sự 2015 còn quy định về trách nhiệm trả lãi trong trường hợp bên vay chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Căn cứ khoản 5 Điều 466 Bộ Luật Dân sự 2015:

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Thứ hai, về việc xử phạt tội cho vay nặng lãi, căn cứ khoản 1 điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự:

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

>> Xem thêm:  Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả nên báo công an không ?

3. Hình phạt với tội cho vay nặng lãi ?

Cùng với việc nhà nước thắt chặt tín dụng, kìm chế lạm phát ở mức tối đa - Hiện tượng cho vay nặng lãi trong những năm qua đang diễn ra ngày càng phổ biến để lại những hậu quả khôn lường. Chúng tôi đưa ra những Quy định của pháp luật hình sự này để Quý khách hàng tham khảo. Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ 1900.6162 để được tư vấn, hỗ trợ và giải đáp trực tiếp:

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tội cho vay nặng lãi

Tội cho vay nặng lãi theo luật hình sự Gọi: 1900.6162

1. Hành vi cho vay nặng lãi:

Thứ nhất, về mức lãi suất cho vay, căn cứ điều 468 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về lãi suất như sau:

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.


uật quy định mức lãi suất cho các bên tự thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Trường hợp bên cho vay yêu cầu mức lãi suất lớn hơn mức 20%/năm thì được coi là cho vay nặng lãi.
2. Tội cho vay nặng lãi:

Đồng thời, Điều 201 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."


Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định. Cụ thể: Lãi suất suất cao nhất mà pháp luật quy định trên tháng là: 5 lần x 1,666% = 8,33%. Do đó, nếu mức lãi cho vay hàng tháng mà cao hơn con số này thì có thể sẽ bị truy tố về tội danh trên.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tư vấn thu hồi nợ cho doanh nghiệp;

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc kinh doanh trên các web trên mạng?

4. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và vấn đề cho vay nặng lãi?

Thưa luật sư, Xin cho em hỏi: Cha em có vay tiền với lãi xuất là 1 triệu 1 ngày đống 6 ngàn. với nhiều người khác nhau. Cũng có người 1 triệu ngày 7 - 8 ngàn. Tổng số tiền lên đến khoản 400 - 450 Triệu. Do Cha em không còn khả năng để trả nợ, nên Cha em đã bỏ đi được hơn 6 tháng rồi. Chủ nợ họ đưa đơn kiện Cha em.

Vậy em xin hỏi Trường hợp như Cha em có bị xử vào tội lừa đảo hay chiếm đoạt tài sản không? Mức lãi thỏa thuận như vậy có hợp lý không? Bên cho vay có phạm tọi cho vay nặng lãi không ?

Cảm ơn luật sư nhiều!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và vấn đề cho vay nặng lãi

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và vấn đề cho vay nặng lãi - Ảnh minh họa

Trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục của chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Theo như những thông tin mà bạn đưa ra thì cha bạn không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Theo Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Điều 175 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Trường hợp trên, bố bạn dựa vào các mối quan hệ để vay tiền, nhưng khi vay đến một số tiền quá lớn và không có khả năng thanh toán thì bỏ trốn. Thuộc vào điểm a, Khoản 3, Điều 140 bộ luật hình sự.

Vấn đề thứ hai về cho vay nặng lãi, Điều 201 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Như vậy, pháp luật chỉ thừa nhận đối với phần lãi suất không vượt quá 20%/ năm theo quy định trên. Bên cạnh đó, để xem xét hành vi cho vay tiền có lãi có phải là hành vi cho vay nặng lãi hay không thì cần xem xét lãi suất cho vay là bao nhiêu. Nếu lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên, đồng thời có tính chất chuyên bóc lột thì xác định hành vi đó cấu thành Tội cho vay nặng lãi.

>> Xem thêm:  Chi phí lãi vay của doanh nghiệp được trừ khi tính thuế TNDN

5. Cho vay nặng lãi, ép viết giấy vay nợ thì có phải trả nợ ?

Xin chào luật sư, Em muốn hỏi về chuyện cho vay nặng lãi cao và bắp ép viết giấy vay nợ. Năm 2016 em có cắm thẻ sinh viên tại 1 hiệu cầm đồ gần trường với số tiền 500 nghìn đồng, sau đó vì lãi suất lấy quá cao, trả chậm ngày lãi tăng gấp đôi và do việc về quê không học nên em chưa chuộc được ra, đến năm 2018 cửa hàng cầm đồ có thuê người tìm bắt em và bạn trai em đến cửa hàng, ép em viết giấy ghi nợ với số tiền 11 triệu đồng và bắt cả bạn trai em viết 1 giấy ghi nợ giống như vậy cũng với số tiền 11 triệu.

Mà bạn trai em không hề vay cũng không hề cầm 1 đồng nào của cửa hàng, vì bị bắt phải viết và dùng lời lẽ khó nghe dồn ép nên e và bạn trai bắt buộc phải viết theo họ đọc, họ còn chụp lại ảnh nhưng không hề có ảnh em nhận tiền, ảnh chụp vào năm 2018 nhưng trong giấy ghi nợ bắt em ghi vào năm 2016, sau đó họ bắt em và bạn trai trong vòng nửa tiếng phải đem tiền đến trả họ, bắt bạn trai em cắm xe nhưng bạn trai em không cầm giấy tờ nên không cắm được, thì bắt em phải cắm vàng cắm máy tính, và trả đc cho họ số tiền 3tr5 , sau đó họ bắt viết và hẹn mấy ngày sau phải mang tiền đến tiếp, mấy ngày sau em có mang thêm 3tr đồng đến và xin họ cho xé giấy, và họ không đồng ý lại tiếp tục bắt em mang tiền đến.

Vậy xin hỏi trong trường hợp này em có nên báo công an không, và họ có bị tội gì không ạ ?

Em xin cảm ơn ạ.

Luật sư trả lời:

Công ty luật Minh Khuê xin cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến cho chúng tôi, sau thời gian nghiên cứu chúng tôi xin được trả lời bạn như sau:

Với các thông tin của bạn đã nêu cùng câu hỏi có nên báo công an hay không. Tôi nghĩ bạn đang muốn hỏi về sự việc người bên tiệm ép bạn và bạn trai viết giấy nợ. Căn cứ vào Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Từ căn cứ nêu trên ta thấy rằng việc bạn bạn trai viết giấy nợ khi bị ép buộc nên giấy nợ đấy không có giá trị pháp lý vậy nên hai bạn không phải thanh toán số tiền nợ đó. Khi xét ở phương diện của pháp luật hình sự thì người bên tiệm cầm đồ ép hai bạn viết giấy nợ và ép hai bạn trả số tiền đó, thực tế bạn cũng đã phải mang tiền đến để đưa cho họ nên họ đã vi phạm vào Điều 170 Tội cưỡng đoạt tài sản Bộ luật hình sự 2015.

Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Từ căn cứ nêu trên bạn hoàn toàn có quyền báo cơ quan công an về hành vi vi phạm pháp luật của họ, pháp luật sẽ bảo vệ quyền, lịch ích hợp pháp cho bạn trong trường hợp này. Chúc các bạn sức khỏe và sớm đòi lại được công bằng trong cuộc sống.

>> Xem thêm:  Làm giấy vay tiền viết tay có hợp pháp không?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn cách lấy lại tiền đặt cọc theo quy định của pháp luật ?