1. Tội xâm phạm danh sự và nhân phẩm bị phạt như thế nào ?

Thưa luật sư tôi có một thắc mắc muốn luật sư giải đáp như sau: Con gái tôi đang tắm thì có 9- 10 ngườii xong vào nhà trọ đánh và xé hết quần áo của con toi . ông chủ nhà trọ quyết liệt can găn nhưng vẫn không được.
Kết quả là con tôi bị mất chiếc vòng đeo tay trên người nhiều thương tích nhẹ đặc biệt trên người con tôi không mặc gì ngoài chiếc quần lót.Như vậy hành vi như thế bị xử phạt như thế nào?.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: V.V.B

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Hành vi của những người đánh con gái bạn là hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác, xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của người khác. Theo các quy định tại Điều 33,34, Bộ luật dân sự 2015:

Điều 33. Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể
1. Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.
2. Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm hoặc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có điều kiện cần thiết đưa ngay đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
3. Việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người; thực hiện kỹ thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thể người; thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được sự đồng ý của người đó và phải được tổ chức có thẩm quyền thực hiện.
Trường hợp người được thử nghiệm là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người nêu trên thì phải có quyết định của người có thẩm quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
4. Việc khám nghiệm tử thi được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có sự đồng ý của người đó trước khi chết;
b) Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám hộ nếu không có ý kiến của người đó trước khi chết;
c) Theo quyết định của người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp luật quy định.
Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.
Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.
4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.
5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại

Do đó, hành vi trên bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình:

Điều 5: Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
...
e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;

Đồng thời, nếu thỏa mãn cấu thành tội phạm thì hành vi trên bị truy cứu TNHS theo quy định tại Điều 155, 158 Bô luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 như sau:

Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%75.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên76;
b) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 158. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác
1.82 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;
b) Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;
c) Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;
d) Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự, những người trên phải bồi thường thiệt hại cho con gái bạn theo Điều 589, 590 và 592 BLDS 2015:

Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.
2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
4. Thiệt hại khác do luật quy định.
Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
c) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?

2. Có bị xúc phạm danh dự nhân phẩm không ?

Tôi là giáo viên dạy cấp 1. Mấy ngày trước tôi có cùng bạn trai ra ngoài tạo lập cuộc sống riêng. Một hôm gia đình tôi có lên gặp anh trai của bạn tôi để nói chuyện của 2 đứa, lúc đó anh ta dùng nhiều từ ngữ không hay nói tôi là đứa con gái lẳng lơ, nói nhiều từ xúc phạm danh dự của tôi.
Hôm sau, khi biết được sự việc tôi có nhắn tin nói chuyện hải trái với anh ta, không ngờ anh ta còn hù dọa là sẽ làm đơn để nói xấu tôi rồi gửi xuống phòng giáo dục nơi tôi đang công tác. Liệu tôi có thể thưa anh ta về việc xúc phạm danh dự không?
Xin chân thành cảm ơn!

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời

Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được pháp luật đề cập tới trong nhiều văn bản. Điều 20 Hiến pháp 2013 đã nêu rõ:

"Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm".

Ðiều 34 Bộ luật dân sự 2015 cũng nêu: "Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ".

Ðiều 592 Bộ luật Dân sự 2015 cũng có quy định về bồi thường do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm như sau:

Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
c) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Như vậy khi nhận thấy danh dự nhân phẩm của mình bị xâm phạm, bạn có quyền khởi kiện yêu cầu người gây ra thiệt hại phải bồi thường.

Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

- Đơn khởi kiện;

Tài liệu chứng minh nội dung khởi kiện là có căn cứ;

Bản sao các giấy tờ sau: Chứng minh thư nhân dân, Sổ hộ khẩu;

Hồ sơ khởi kiện được nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người có hành vi gây thiệt hại cư trú.

Ngoài ra, bạn cũng có thể làm đơn tố cáo hành vi của anh trai của bạn trai bạn và gửi đến cơ quan công an nơi người ấy đang cư trú. Trường hợp có đủ cơ sở chứng minh, tùy theo mức độ vi phạm thì hành vi của người ấy có thể bị xử phạt hành chính theo quy định sau (Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình):

"Điều 5 Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;”

Trường hợp bạn muốn các cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý về hình sự đối với người ấy thì bạn có thể làm đơn tố giác tội phạm và gửi đến cơ quan công an nơi người ấy đang cư trú. Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định hình thức xử lý đối với hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác như sau:

Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%75.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên76;
b) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác ở đây có thể được hiểu là làm tổn thương nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác. Mức độ nghiêm trọng cụ thể của hành vi phụ thuộc vào thái độ, nhận thức, mục đích của người phạm tội (mong muốn làm nhục người khác) cường độ và thời gian kéo dài của hành vi xúc phạm; môi trường diễn ra hành vi xúc phạm, sự tác động cụ thể đối với người bị hại (bị ảnh hưởng về tâm lý )…

>> Xem thêm:  Mức phạt về tội làm nhục người khác như thế nào ? Phát tán video nhạy cảm bị phạt thế nào ?

3. Thủ tục giải quyết trách nhiệm dân sự do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín ?

Như Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh, từ một vụ án mà TAND thị xã Buôn Hồ (Dăk Lăk) xử sơ thẩm đã đặt ra tình tiết pháp lý gây tranh cãi về việc tòa thụ lý những đơn kiện liên quan đến báo chí: Người cho rằng đương sự phải khiếu nại báo trước; người lại nói cứ việc kiện thẳng ra tòa…

Luật Báo chí quy định chưa rõ, gây nhiều cách hiểu khác nhau. Như Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh, từ một vụ án mà TAND thị xã Buôn Hồ (Dăk Lăk) xử sơ thẩm đã đặt ra tình tiết pháp lý gây tranh cãi về việc tòa thụ lý những đơn kiện liên quan đến báo chí: Người cho rằng đương sự phải khiếu nại báo trước; người lại nói cứ việc kiện thẳng ra tòa…

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Có quyền kiện thẳng ra tòa

Qua tìm hiểu thực tế, không ít các tòa ở TP.HCM như TAND TP, TAND các quận 1, 3, 10… đều đã từng giải quyết những vụ kiện báo chí tương tự như TAND thị xã Buôn Hồ. Theo lãnh đạo các tòa này, họ thụ lý đơn khởi kiện trực tiếp của đương sự chứ không buộc đương sự phải khiếu nại đến cơ quan báo chí trước rồi mới chấp nhận thụ lý. Đây là chuyện bình thường mà lâu nay các tòa vẫn làm.

Lý giải, lãnh đạo các tòa cho biết đây là tranh chấp dân sự. Các đương sự đòi báo cải chính, xin lỗi, bồi thường danh dự, uy tín bị xâm hại… mang tính chất “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Chiếu theo pháp luật dân sự, ai thấy mình bị thiệt hại thì có quyền đòi bồi thường, tòa thấy đơn kiện có căn cứ thì thụ lý chứ không đòi đương sự phải có khiếu nại, phải có trả lời của cơ quan báo chí… hoặc những thủ tục “tiền tố tụng” như trong án hành chính. Nếu đương sự kiện báo chí mà có căn cứ, tòa không thụ lý thì mới là vi phạm tố tụng!

Luật chuyên ngành chưa rõ

Thật ra, tranh cãi xung quanh việc khi một người cho rằng báo chí viết sai, xâm hại đến lợi ích của mình thì được kiện thẳng ra tòa hay phải khiếu nại đến tờ báo đó trước từng diễn ra cách đây chín năm và đến nay vẫn chưa có hồi kết.

Năm 2000, Báo Quảng Trị đăng bài viết “Kiên quyết tấn công tội phạm”, tường thuật việc Công an thị xã Đông Hà bắt giữ ông Nguyễn Văn Đàn… Sau đó, ông Đàn kiện báo ra tòa, cho rằng ông chưa hề bị bất kỳ một bản án có hiệu lực pháp luật nào tuyên phạm tội nhưng báo nêu “kiên quyết chống tội phạm” là xúc phạm ông. Ông yêu cầu báo phải bồi thường, cải chính, xin lỗi…

Trong vụ này, Báo Quảng Trị cho rằng trước khi kiện báo, đương sự phải qua thủ tục khiếu nại báo. Lập luận của Báo Quảng Trị căn cứ vào khoản 4 Điều 9 Luật Báo chí. Theo đó, “trong trường hợp cơ quan báo chí không cải chính, xin lỗi hoặc cải chính, xin lỗi không đúng các quy định của luật này, không đăng, không phát sóng lời phát biểu của tổ chức, cá nhân thì tổ chức, cá nhân đó có quyền khiếu nại với cơ quan chủ quản báo chí, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện tại tòa án”.

Lúc đó, nhiều chuyên gia pháp lý đã nhận xét quy định tại khoản 4 Điều 9 Luật Báo chí chưa rõ ràng, dẫn đến hai cách hiểu khác nhau: Nếu hiểu “trong trường hợp…, có quyền…” là trình tự, quy trình thì đương sự bắt buộc phải khiếu nại báo trước, nếu không được đáp ứng yêu cầu thì mới được kiện ra tòa. Còn hiểu “trong trường hợp…, có quyền…” là mô tả tình huống thì còn một tình huống khác: Đương sự được khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nói chung, tức được khởi kiện thẳng ra tòa mà không cần qua giai đoạn khiếu nại.

Phần đông chuyên gia đồng ý với cách hiểu thứ hai. Cách hiểu này không hạn chế quyền của đương sự trong việc khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Tuy nhiên, vấn đề này đến nay vẫn chưa được giải quyết triệt để bằng một hướng dẫn chính thức của cơ quan có thẩm quyền nên một lần nữa lại xảy ra mâu thuẫn trong cách nhìn nhận, cách hiểu một điều luật. Vì vậy theo chúng tôi, có lẽ đã đến lúc các cơ quan tố tụng trung ương nên có hướng dẫn thống nhất để khỏi phải xảy ra tranh cãi khi ngành tòa án thụ lý những vụ kiện liên quan đến báo chí như thế này.

Đồng ý trên nguyên tắc là những vụ kiện báo chí để đòi bồi thường thiệt hại uy tín, danh dự… là những vụ kiện dân sự nhưng thẩm phán Phạm Công Hùng (TAND tối cao tại TP.HCM) lại mở ra một góc nhìn mới.

Theo ông, trong trường hợp luật chuyên ngành có quy định thủ tục, trình tự khởi kiện cụ thể, rõ ràng thì tòa sẽ áp dụng luật chuyên ngành thay cho Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết. Tuy nhiên, điều quan trọng là ở đây luật chuyên ngành (Luật Báo chí) lại không hề có quy định rõ ràng nên ngành tòa án vẫn áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự, tức tòa sẽ thụ lý đơn kiện trực tiếp của đương sự mà không bắt họ phải thông qua thủ tục khiếu nại cơ quan báo chí.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.0159. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?