- 1. Quy định pháp luật trước đây về trách nhiệm "người thi công"
- 2. Quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm "người thi công"
- 3. Vấn đề cần bàn về khái niệm "người thi công"
- 4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công được xác định trên cơ sở nào?
- 5. Bình luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của "người thi công"
Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì hiện nay pháp luật quy định "người thi công" có phải bồi thường? Trong trường hợp người thi công đang thi công, xây dựng công trình mà gây ra thiệt hại thì người thi công phải bồi thường không? Nếu có luật sư hãy giúp tôi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Quy định pháp luật trước đây về trách nhiệm "người thi công"
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công là quy định hoàn toàn mới trong Bộ luật dân sự năm 2015. Có thể thấy rằng, trước khi quy định này được bổ sung, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong nhiều trường hợp thuộc về người thi công hay chủ sử hữu cũng như các chủ thể có liên quan vẫn là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi. Theo quy định tại Điều 627 bộ luật dân sự trước đay, người thi công hoàn toàn không được nhắc đến khi xác định các chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại. Điều này dẫn đến thực tế đó là khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại mà người thi công có lỗi thì việc họ có phải bồi thường hay không vẫn là vấn đề còn tồn tại những ý kiến khác nhau.
- Ý kiến thứ nhất cho rằng, khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường chỉ thuộc về chủ sử hữu hoặc người được giao quản lý, sử dụng như Điều 627 điều luật đã quy định.
- Ý kiến khác cho rằng, việc pháp luật không quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công không có nghĩa rằng người thi công không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại. Theo đó, nếu người thi công có lỗi thì họ cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, và cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm của họ là quy định chung về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Điều 604 của bộ luật và các quy định có liên quan đến việc áp dụng tương tự pháp luật.
2. Quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm "người thi công"
Những cách hiểu không thống nhất như ta vừa phân tích ở trên (mục 1) chính là nguyên nhân dẫn đến việc áp dụng không thống nhất các quy định pháp luật trên thực tiễn.
Điều này khiến cho quy định được ban hành sẽ không được áp dụng một cách hiệu quả. Đồng thời sẽ dễ tạo ra sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích họp pháp của các chủ thể có liên quan. Những bất cập trong bộ luật trước đây đã được giải quyết khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành.
Hiện nay theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam đã có chế định quy định riêng về người thi công phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại. Cụ thể được quy định tại điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
"Điều 605. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.
Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường."
3. Vấn đề cần bàn về khái niệm "người thi công"
Tuy nhiên, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công được đề cập tại Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015, ta thấy có một số vấn đề cần làm rõ, thứ nhất, về khái niệm "người thi công".
Về khái niệm “người thi công” được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau.
- Dưới góc độ ngôn ngữ, theo Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam (1998), Đại Từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, thi công được hiểu là “Tiến hành xây dựng một công trình theo cách thức đã thể hiện trên bản vẽ kỹ thuật”.
- Dưới góc độ pháp lý “Thi công xầy dựng công trĩnh gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đoi với công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bồ, phục hồi; phả dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình xây dựng’’’ (Theo khoản 38 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014).
Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ cũng như góc độ pháp lý, thi công đều gắn với hoạt động xây dựng công trình, bao gồm nhiều hoạt động được diễn ra trước khi công trình xây dựng được hoàn thiện (xây mới), sau khi công trình đã được đưa vào sử dụng (sửa chữ, cải tạo, bảo hành, bảo trì,...), thậm chí còn bao gồm cả hoạt động phá dỡ công trình.
- “Người thi công” là một thuật ngữ pháp lý nhưng không có văn bản nào đưa ra khái niệm cụ thể. Tuy nhiên, dựa trên cơ sở khái niệm thi công được trích dẫn ở trên, chúng ta có thể hiểu rằng “người thi công là người thực hiện các hoạt động nhằm xây dựng mới, sữa chữa, bảo trì,... hoặc phá dỡ một công trình theo cách thức đã thể hiện trên bản vẽ kỹ thuật hoặc một kế hoạch đã được vạch sẵn”. Theo tinh thần của Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015, chỉ những người thi công xây dựng nhà cửa, công trình xây dựng khác (chính là công trình gây thiệt hại) mới thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều luật này.
Nếu là người thi công công trình bên cạnh tác động làm cho nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại thì không áp dụng quy định tại Điều này mà áp dụng căn cứ chung ở khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ví dụ, A thi công nhà của B, nhưng lại làm đổ nhà của c, dẫn đến D bị thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về A. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý áp dụng trong trường hợp này là khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015, mà không phải Điều 605 Bộ luật Dân sự. Bởi vì, nhà của c đổ gây thiệt hại cho D, nhưng A không phải là người thi công nhà của C, mà là người thứ ba có lỗi tác động làm cho nhà C gây thiệt hại cho D.
Ngoài ra, Điều luật này không xem xét trách nhiệm của người thi công đang xây dựng nhà cửa, công trình xây dựng khác, mà chỉ xem xét đến trách nhiệm của người thi công khi công trình đã bàn giao cho chủ sử hữu (tại thời điểm nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại, hoạt động thi công đã chấm dứt hoặc đang tạm ngừng thực hiện).
Nếu trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại khi người thi công vẫn đang tiến hành hoạt động xây dựng, mà người thi công bị coi là có lỗi, thì lỗi đó là lỗi do hành vi thi công gây thiệt hại, và sẽ áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết, chứ không áp dụng Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công được xác định trên cơ sở nào?
Theo quy định tại Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công được xác định trên cơ sở có lỗi của họ đối với thiệt hại xảy ra.
"Điều 605. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.
Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường."
Theo quy định này, lỗi của người thi công có thể xuất hiện trong hai trường hợp:
- Bản thân người thi công đã nhận thức được khả năng gây thiệt hại của nhà cửa, công trình xây dựng, nhưng họ lại để mặc cho thiệt hại xảy ra;
- Khi thi công đã không tuân thủ các quy định pháp luật về xây dựng và nhận thức được việc không tuân thủ đó sẽ có thể khiến cho nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại.
Do đó, để xác định lỗi của người thi công khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải xem xét quá trình họ thực hiện hoạt động xây dựng có đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật, đúng thiết kế,... hay không. Nếu không thể chứng minh người thi công đã vi phạm các quy định pháp luật về xây dựng thì không thể bắt họ bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra. Ngoài ra, cũng phải chứng minh người thi công đã nhận thức được khả năng gây thiệt hại của nhà cửa, công trình xây dựng nhưng đã không thông báo cho chủ sử hữu biết nên thiệt hại mới xảy ra. Nếu không chứng minh được yếu tố này thì không thể khẳng định người thi công “có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại”, và họ sẽ không phải bồi thường thiệt hại.
5. Bình luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của "người thi công"
Theo quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công trong Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015 ta thấy còn bất cập ở chỗ là nó chỉ hướng tới việc xác định trách nhiệm liên đới giữa người thi công với chủ sử hữu hoặc các chủ thể khác.
"Điều 605. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.
Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường."
Ta thấy, quy định trên của Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ phù hợp nếu cả người thi công và chủ sử hữu hoặc các chủ thể khác cùng có lỗi khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại;
Ở đây có một câu hỏi đặt ra là: Nếu trong trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại mà lỗi hoàn toàn thuộc về người thi công., không có liên đới, liên quan tới chủ sở hữu. Ví dụ, vừa bàn giao nhà thì nhà bị sập gây thiệt hại - thì không thể buộc chủ sử hữu hoặc các chủ thể khác phải cùng liên đới chịu trách nhiệm với người thi công trong mọi trường hợp mà người thi công phải chịu trách nhiệm bồi thường độc lập hoàn toàn. Do đó, đối với quy định này cần được xem xét và cân nhắc phải được sửa đối cho phù hợp với thực tiễn theo hướng phân định rõ trường hợp người thi công hoàn toàn có lỗi thì phải tự bồi thường, nếu có một phần lỗi thì phải liên đới bồi thường với chủ sử hữu, người chiếm hữu, sử dụng.
Trân trọng!