1. Thế nào là trách nhiệm kỷ luật?
Trách nhiệm kỷ luật hiểu theo một cách chung nhất là một dạng trách nhiệm pháp lý được thực hiện trong quan hệ nội bộ của các cơ quan hay hệ thống các cơ quan nhà nước. Trong khoa học luật hành chính, trách nhiệm kỷ luật là một những hậu quả bất lợi đối với những cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị xử lý kỷ luật.
Hậu quả pháp lý của trách nhiệm kỷ luật có thể là: kéo dài thời gian nâng bậc lương; không được nâng ngạch hoặc bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn; có thể bị chuyển làm công tác khác. Cán bộ, công chức lãnh đạo bị kỷ luật bằng hình thức cách chức được bố trí làm công tác khác. Cán bộ, công chức đang trong thời gian bị xem xét kỷ luật thì không thực hiện việc điều động, biệt phái, bổ nhiệm, giải quyết nghỉ hưu hoặc giải quyết chế độ thôi việc.
2. Đối tượng bị áp dụng trách nhiệm kỷ luật
Đối tượng bị áp dụng trách nhiệm kỷ luật là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Và ngay cả cán bộ, công chức được điều động sang làm việc tại các tổ chức kinh tế tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; cán bộ, công chức đang nghỉ chế độ chờ làm thủ tục hưu trí; cán bộ, công chức sau khi điều động công tác về các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mối phát hiện vi phạm kỷ luật cũng phải chịu trách nhiệm kỷ luật theo quy định của pháp luật.
3. Các hình thức của trách niệm kỷ luật
Công chức vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau đây:
- Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý
- Khiển trách;
- Cảnh cáo;
- Hạ bậc lương;
- Buộc thôi việc.
- Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý
- Khiển trách;
- Cảnh cáo;
- Giáng chức;
- Cách chức;
- Buộc thôi việc.
Công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm.
Cán bộ vi phạm quy định của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau đây:
- Khiển trách;
- Cảnh cáo;
- Cách chức;
- Bãi nhiệm.
Việc cách chức chỉ áp dụng đối với cán bộ được phê chuẩn giữ chức vụ theo nhiệm kỳ.
Cán bộ phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm; trường hợp bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau:
- Đối với viên chức quản lý:
- Khiển trách;
- Cảnh cáo;
- Cách chức;
- Buộc thôi việc.
- Đối với viên chức không giữ chức vụ quản lý:
- Khiển trách;
- Cảnh cáo;
- Buộc thôi việc.
4. Trách nhiệm kỷ luật và quyền con người
Trách nhiệm kỷ luật đôi khi đứng độc lập nếu như hành vi có lỗi, vi phạm các quy tắc, nghĩa vụ trong hoạt động công vụ không thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, trong trường hợp cán bộ, công chức vi phạm pháp luật bị Toà án tuyên là có tội hoặc bị cơ quan có thẩm quyền kết luận bằng văn bản về hành vi vi phạm pháp luật thì họ cũng phải chịu trách nhiệm kỷ luật theo quy định.
Như vậy, tính răn đe của trách nhiệm kỷ luật là rất lớn. Cán bộ, công chức bị áp dụng trách nhiệm kỷ luật không chỉ có nguyên nhân từ các hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện công vụ mà còn bởi các vi phạm pháp luật khác trong cuộc sống đời thường. Điều này thể hiện tiêu chí của Nhà nước ta trong việc nâng cán bộ, công chức thành những tấm gương tôn trọng pháp luật, tôn trọng kỷ cương phép nước, tôn trọng phẩm giá con người. Cũng từ đó, đối với một người nếu đã có vết tích trong hồ sơ cán bộ, công chức của mình đồng nghĩa với việc họ khó có khả năng thăng tiến trên con đường quan trường. Danh tiếng của họ bị tổn hại nghiêm trọng bởi họ là một cán bộ, công chức đã từng vi phạm pháp luật chứ không phải một công dân bình thường vi phạm pháp luật, ở đây, trách nhiệm kỷ luật không nhằm vào yếu tố tài chính, yếu tố” vật chất như trách nhiệm vật chất mà nó hưởng tới danh dự và tương lai của đối tượng. Quy định về trách nhiệm kỷ luật có ý nghĩa rất to lớn trong việc giáo dục ý thức bảo đảm quyền con người, quyền công dân đối với cán bộ, công chức không chỉ trong quá trình thi hành công vụ, nhân danh quyền lực nhà nước mà còn trong cả đời sống xã hội hằng ngày.
Trách nhiệm kỷ luật uy lực là thế, tuy nhiên, thực tiễn đời sống vấn đề này đang tồn tại những hạn chế cần phải bàn. Đảo qua một lượt các kênh thông tin đại chúng, chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều những đề cập về sự thiếu nghiêm minh trong kỷ luật cán bộ, công chức như sự châm chước, bỏ qua, xử lý chiếu lệ, kỷ luật xong được cắt cử lên vị trí cao hơn Nếu hiệu quả của hoạt động xử lý kỷ luật không tốt sẽ hạn chế rất lớn tính nghiêm khắc có phần răn đe đối với những vi phạm của cán bộ, công chức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo đảm quyền con người. Không những thế, một khi trách nhiệm kỷ luật tỏ ra kém hiệu quả sẽ kéo theo nguy cơ tha hóa quyền lực trong lực lượng cán bộ, công chức, làm lệch cán cân trong mối quan hệ giữa một bên là quyền lực nhà nước và một bên là các yếu tô" kiềm chế, kiểm sát quyền lực. Chính sự tha hóa quyền lực nhà nước, sự lộng quyền trong đội ngũ những người thừa hành quyền lực sẽ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vi phạm quyền con người mà không một phép màu nào có thể hoá giải nổi. Vì thế, trách nhiệm kỷ luật phải được nâng lên ở một tầm cao hơn trong sứ mệnh đảm bảo quyền con người.
5. Quy định mới về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức
- Cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu cũng là đối tượng có thể xem xét xử lý kỷ luật:
Nghị định số 112/2020/NĐ-CP quy định về nguyên tắc xử lý kỷ luật; việc áp dụng các hình thức kỷ luật tương ứng với các hành vi vi phạm; thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức. Nghị định này áp dụng đối với: Cán bộ trong các cơ quan hành chính nhà nước, đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách, công chức, viên chức và cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu.
- Cán bộ, công chức, viên chức thuộc các trường hợp sau đây được tạm thời chưa xem xét xử lý kỷ luật, gồm:
- Cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng được cấp có thẩm quyền cho phép.
- Cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức; bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.
- Cán bộ, công chức, viên chức là nữ giới đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc cán bộ, công chức, viên chức là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
- Cán bộ, công chức, viên chức đang bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật, trừ trường hợp theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
- Cán bộ, công chức, viên chức thuộc các trường hợp sau đây được miễn trách nhiệm kỷ luật:
- Được cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng mất năng lực hành vi dân sự khi có hành vi vi phạm.
- Phải chấp hành quyết định của cấp trên theo quy định tại khoản 5 Điều 9 Luật Cán bộ, công chức.
- Được cấp có thẩm quyền xác nhận vi phạm trong tình thế cấp thiết, do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự khi thi hành công vụ.
- Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm đến mức bị xử lý kỷ luật nhưng đã qua đời.
Nghị định số 112/2020/NĐ-CP quy định rõ các hành vi bị xử lý kỷ luật tại khoản 1 Điều 6, cụ thể: Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi sau đây thì bị xem xét xử lý kỷ luật: Hành vi vi phạm các quy định về nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức; những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm; nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; vi phạm đạo đức, lối sống hoặc vi phạm pháp luật khác khi thi hành công vụ.
Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, hành vi vi phạm được phân loại thành 04 mức độ: Vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng, vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng và vi phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Việc xác định mức độ vi phạm dựa trên các dấu hiệu sau đây:
Thứ nhất, vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng là vi phạm có tính chất, mức độ tác hại không lớn, tác động trong phạm vi nội bộ, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác.
Thứ hai, vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại lớn, tác động ngoài phạm vi nội bộ, gây dư luận xấu trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân, làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác.
Thứ ba, vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại rất lớn, phạm vi tác động đến toàn xã hội, gây dư luận rất bức xúc trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân, làm mất uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác.
Thứ tư, vi phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại đặc biệt lớn, phạm vi tác động sâu rộng đến toàn xã hội, gây dư luận đặc biệt bức xúc trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân, làm mất uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)