1. Trách nhiệm pháp lý của người cho vay?

Trách nhiệm pháp lý của người cho vay là rủi ro của bên cho vay phải bù đắp tài chính liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến những hành động của bên cho vay. Nghĩa vụ pháp lý của bên cho vay là một chủ đề phức tạp; nhưng bên cho vay có thể tự bị đặt vào rủi ro, nếu họ đảm trách một quyền lợi mang tính kiểm soát trong hoạt động của bên vay.

Theo luật liên bang hiện tại, ngân hàng cho vay có thể bảo vệ hoạt động của họ, đối với yêu cầu của bên vay hoặc bất kỳ bên thứ ba nào, nếu họ có thể chứng minh hành động của họ chỉ được thực hiện trong khả năng của bên cho vay. Nhưng, nếu bên cho vay hành động như chủ sở hữu, chủ nhân, giám đốc trong ban quản lý doanh nghiệp, thì họ không thể đưa ra lý lẽ có thể bảo vệ chống lại những yêu cầu đó.

Xem trường hợp một ngân hàng tước quyền sở hữu đối với bên vay không chi trả nợ, và nắm giữ tài sản như tài sản thế chấp. Tài sản sau đó được nhận thấy là chứa hóa chất độc hại từ nhà máy công nghiệp cũ. Nếu ngân hàng có thể chứng minh hành động này được cho phép theo hợp đồng khoản vay với bên vay, thì ngân hàng có thể tự bảo vệ đối với những yêu cầu pháp lý, buộc bên vay hoặc bên thứ ba chịu chi phí làm sạch mói trường.

Về phương diện yêu cầu trả nợ của bên cho vay trong những năm gần đây, bên cho vay có thể không còn dựa trên các quan điểm ứng xử truyền thống trong mở rộng tín dụng và thu hồi các khoản chi trả lại, một khi khoản vay đã được thực hiện.

 

2. Một số câu hỏi thường gặp

2.1. Khi cho vay tài sản, bên cho vay có những nghĩa vụ gì?

Trong quan hệ vay tài sản, bên cho vay có những nghĩa vụ được pháp luật ghi nhận như sau:

- Thứ nhất, bên cho vay phải giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận

- Thứ hai, bên cho vay bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó.

- Thứ ba, bên cho vay không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 hoặc luật khác có liên quan quy định khác. 

 

2.2. Khi cho vay tài sản, đến hạn nhưng người vay không trả thì người cho vay nên làm những gì để đòi lại tài sản đúng pháp luật mà không phạm vào tội cưỡng đoạt tài sản của người khác?

Theo Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định rằng: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chi phí trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Việc giao kết này có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, để chắc chắn nhất thì các bên nên lập văn bản, cùng kí xác nhận để có bằng chứng rõ ràng, cụ thể về quan hệ vay nợ này. 

Về mặt pháp lí, nếu hai bên có quan hệ vay nợ tài sản trước hết nên giải quyết thông qua thỏa thuận hoặc thông qua con đường khởi kiện ra Tòa án thay vì người cho vay đơn phương thực hiện hành vi lấy đi tài sản của người vay trừ nợ.

Cụ thể, pháp luật tố tụng dân sự quy định rằng, trường hợp hai bên có quan hệ vay nợ lẫn nhau và các bên không thỏa thuận được thời gian, thời hạn trả nợ cũng như số nợ phải trả, số tiền lãi phải trả thì người cho vay có thể yêu cầu tòa án giải quyết. 

Nếu bị đơn là cá nhân thi theo Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự là Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc.  Trường hợp bên khởi kiện không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì có thể khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết. 

Sau khi thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn, nghiên cứu hồ sơ, căn cứ pháp lý, tòa án sẽ đưa ra phán quyết cho người cho vay, nếu có căn cứ thì yêu cầu người vay phải trả cho người cho vay số tiền, tài sản đã vay.

Khi đã có phán quyết - bản án của tòa nhưng người vay vẫn không trả thì người cho vay vẫn được tiếp tục quyền của mình là yêu cầu tòa án giải quyết. Người cho vay có thể yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành thi hành bản án, nghĩa là tìm hiểu người vay có tài sản ở đâu để thực hiện các biện pháp cưỡng chế cũng như phong tỏa tài sản của con nợ, thu hồi khoản nợ cho chủ nợ.

 

2.3. Khi đến hạn trả nợ, người vay không trả dẫn đến hai bên xảy ra xô xát, hoặc vô tình gây ra hậu quả nghiêm trọng, hoặc người cho vay lấy đi tài sản của người vay để trừ nợ thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

Nếu trong quá trình đòi nợ xảy ra xô xát, hoặc vô tình gây ra hậu quả nghiêm trọng thì sẽ tùy theo tính chất, mức độ của hành vi có thỏa mãn dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cụ thể:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt từ từ 06 tháng đến 03 năm:

a. Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b. Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm

c. Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d. Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ. Có tổ chức;

e. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn

g. Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tam giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h. Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê

i. Có tính chất côn đồ

k. Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 02 năm đến 06 năm:

a. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b. Gây thương tích hoặc gây tổ hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c. Phạm tội 02 lần trở lên;

d. Tái phạm nguy hiểm

đ. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a. Gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%

c. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 ngươi trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a. Làm chết người

b. Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên

d. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a. Làm chết 02 người trở lên

b. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xit nguy hiểm, háo chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. 

Như vậy, người cho vay có hành vi xô xát, đánh người vay dẫn đến thương tích là 11% trở lên thì cho thấy ở đây có dấu hiệu phạm tội, có thể khởi tố vụ án với tội danh cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. 

Hoặc một trường hợp khác, nếu trong quá trình đòi nợ, người cho vay vô tình gây hậu quả nghiêm trọng, gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe của người vay thì có thể cấu thành tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 138 Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. 

Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê gửi đến bạn đọc mang tính chất tham khảo. Trường hợp có bất kì thắc mắc nào liên quan đến pháp luật, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn miễn phí theo số 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.