Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đang ngày càng được sử dụng rộng rãi và được khuyên sử dụng hơn (nhất là trong tranh chấp thương mại quốc tế) so với giải quyết tranh chấp bằng tòa án.  Vì những ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp này, như tính bảo mật trong giải quyết tranh chấp, thủ tục nhanh gọn, phương thức giải quyết tranh chấp thân thiện, các bên được chọn trọng tài viên để giải quyết tranh chấp, địa điểm phân xử, phán quyết trọng tài là chung thẩm. Với tố tụng tòa án, tố tụng hai cấp, một tranh chấp có thể được xét xử nhiều lần (theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm) thì trong tố tụng trọng tài lại có nguyên tắc là xét xử một lần, tố tụng một cấp tức là phán quyết của trọng tài là chung thẩm các bên phải thi hành trừ trường hợp Tòa án tuyên hủy quyết định trọng tài. Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của tố tụng trọng tài là nhân danh ý chí và quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp. Các bên tranh chấp đã lựa chọn và tín nhiệm người phán xử cho mình thì phải phục tùng quyết định đó. Các bên tranh chấp được chọn trọng tài viên phù hợp với tính chất của vụ tranh chấp nên Trọng tài viên thường là người có kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp. Đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài và vụ tranh chấp có một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài các bên tranh chấp được lựa chọn ngôn ngữ trọng tài, Trọng tài viên được chọn phải thông thạo ngoại ngữ được chọn để giải quyết tranh chấp, ngoài ra còn phải hiểu Luật áp dụng giải quyết tranh chấp và Luật địa phương nơi giải quyết tranh chấp vì phán quyết của trọng tài là chung thẩm, có hiệu lực pháp luật ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị, được cơ quan thi hành án trong nước thi hành như một bản án dân sự, phán quyết của trọng tài còn được công nhận và cho thi hành tại trên 150 quốc gia, vùng lãnh thổ là thành viên Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài.Bởi vậy ,” một trong những điểm hấp dẫn thương nhân của việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại so với tòa án là sự thuận tiện, đơn giản trong công việc công nhận và cho thi hành phán quyết nước ngoài.”

1. Khái niệm về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

“Trọng tài” là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, trong đó, các bên tham gia tranh chấp thống nhất tranh chấp phát sinh nếu có sẽ do một hoặc một số người (“trọng tài viên”, “Ủy ban trọng tài”) giải quyết, và quyết định của một hoặc một số người đó (“phán quyết”) có tính chất bắt buộc thực hiện. Có thể hiểu “trọng tài” một cách đơn giản là một biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính pháp lý, giống như việc kiện tụng ở tòa án, và hoàn toàn khác biệt với nhóm các biện pháp không mang tính bắt buộc về mặt pháp lý như đàm phán, trung gian,điều tra và hòa giải.

Trọng tài là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến nhất, với nhiều ưu điểm nổi bật như thời gian xử lý nhanh, trọng tài viên có trách nhiệm giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp, phán quyết của trọng tài là chung thẩm. Chính yếu tố nổi bật về thời gian xử lý tranh chấp nhanh đã dẫn đến pháp luật về trọng tài thừa nhận những yếu tố đặc thù của tố tụng trọng tài so với tòa án. Thí dụ phán quyết của trọng tài là chung thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị. Trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, các bên có nhiều quyền định đoạt về việc được tự do lựa chọn trọng tài, quy tắc tố tụng, luật áp dụng, địa điểm, ngôn ngữ, thời gian tiến hành tố tụng trọng tài, quốc tịch của trọng tài viên…
Khi đã có đủ các điều kiện để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại như có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực… thì các bên thực hiện các bước theo trình tự tố tụng trọng tài.

Trọng tài thương mại theo luật Trọng tài Thương mại được hiểu là một trong những phương thức dùng để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận từ trước và được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp trong các lĩnh vực như hoạt động thương mại, hoạt động liên quan đến tranh chấp hợp đồng thương mại.

Giải quyết bằng trọng tài thương mại là hình thức mà được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo một trình tự thủ tục tố tụng theo quy chế của trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại đó.

Thỏa thuận trọng tài được hiểu là thỏa thuận giữa các bên. Đã có thỏa thuận từ trước  về việc lựa chọn giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.

2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài theo quy định pháp luật

Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cần phải được tuân thủ và chấp hành theo các nguyên tắc đã được định sẵn như sau:

2.1 Tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.

Một trong những ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài là các bên có tranh chấp được đảm bảo tối đa quyền tự do định đoạt trên nhiều phương diện trong quá trình giải quyết. Các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận với nhau về nhiều vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết mà trọng tài viên phải tôn trọng.

Theo quy định tại Điều 68 luật trọng tài thương mại 2010, việc trọng tài tiến hành thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên có thể dẫn đến hậu quả phán quyết trọng tài bị tòa án hủy phán quyết trọng tài theo yêu cầu hủy của một bên.

 “1. Tòa án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài khi có đơn yêu cầu của một bên.

2. Phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;

b) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này;

c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;

d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;

đ) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

3. Khi Tòa án xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, nghĩa vụ chứng minh được xác định như sau:

a) Bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều này có nghĩa vụ chứng minh Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong các trường hợp đó;

b) Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài.

Tuy nhiên, trọng tài sẽ không chịu sự ràng buộc bởi thỏa thuận của các bên trong trường hợp thỏa thuận đó vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.

2.2 Độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật

Như chúng ta đã biết chức năng của trọng tài sẽ là cơ quan giải quyết tranh chấp với phán quyết có giá trị như bản án và trong chừng mực đó phải đáp ứng các yêu cầu về tư cách. Chính vì lý do đó nên việc đảm bảo đúng và chuẩn theo nguyên tắc trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật. xuất phát từ chính chức năng của Trọng tài.

Không chỉ như vậy, nguyên tắc này còn đòi hỏi bản thân Trọng tài viên phải từ chối tranh chấp trong trường hợp mình là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp hoặc đã là hòa giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại Trọng tài, việc không thực hiện nghĩa vụ từ chối giải quyết tranh chấp trong các trường hợp nêu trên có thể dẫn đến hậu quả phán quyết trọng tài bị Tòa án hủy theo yêu cầu của một bên do thành phần của Hội đồng trọng tài trái với quy định của Luật này, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản.

2.3 Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ

Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Cũng theo quy định tại Điều 68 Luật trọng tài thương mại 2010 thì việc Hội đồng trọng tài nếu có hành vi hay thái độ gây cản trở, khó dễ, đưa ra những yêu cầu vô lý, làm trái các nguyên tắc đã được đặt ra thì có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng trong quá trình làm việc. Nếu trọng tài viên để xảy ra vấn đề này thì không chỉ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ việc mà còn gây ra những vấn đề phát sinh không hề đơn giản khi áp dụng hình thức giải quyết bằng trọng tài thương mại

2.4 Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Đây là một trong những nguyên tắc rất đặc biệt, bởi lẽ liên quan đến lĩnh vực thương mại thì các thương nhân có quyền được yêu cầu hội đồng trọng tài  giữ bí mật các thông tin được coi là nhạy cảm, hoặc bí mật kinh doanh  của thương nhân xuất phát từ đặc thù của hoạt động thương mại mà họ đang thực hiện.

Đối với trường hợp yêu cầu giữ bí mật mà liên quan đến việc giải quyết tranh chấp thì đây cũng là một trong những lý do dẫn đến cản trở việc giải quyết của Hội đồng trọng tài. Tuy nhiên việc giải quyết không công khai lại có ưu điểm là giúp cho các thương nhân  giảm thiểu khả năng bí mật kinh doanh bị tiết lộ ra ngoài khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Không chỉ dừng lại ở đó việc việc xét xử không công khai cũng có thể giảm thiểu các tác động bất lợi phát sinh từ việc tranh chấp đến uy tín của thương nhân

2.5 Phán quyết trọng tài là chung thẩm

Đối với nguyên tắc này ta có thể hiểu rằng, sau khi giải quyết thông qua hình thức trọng tài thương mại thì kết quả việc giải quyết hay còn gọi là phán quyết sẽ được xem như quyết định bản án cuối cùng và không thể thực hiện kháng cáo hay yêu càu xét xử lại.

Bên cạnh những ưu điểm, trọng tài thương mại cũng có những nhược điểm so với con đường tòa án, điều này giải thích cho hiện tượng tại sao mặc dù có sự tồn tại của trọng tài mà các bên vẫn có trường hợp đưa các tranh chấp thuộc thầm quyền của trọng tài ra tòa án giải quyết. Trong xu hướng phát triển và toàn cầu hóa hiện nay, đặc biệt kể từ sau khi Việt Nam chúng ta chính thức trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì hoạt động thương mại diễn ra ngày càng nhiều, đan xen và phức tạp cho nên không thể tránh được những tranh chấp. Vì vậy vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại là một trong những vấn đề quan trọng và cần phải được nghiên cứu.