NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Trường đại học và viện nghiên cứu phát triển kỹ năng Li xăng:

1.1 Khái quát chung:

Để tạo điểu kiện cho việc đàm phán chuyển giao công nghệ và li-xăng sáng chế của mình, tổ chức nghiên cứu công và trường đại học cần phải có các chuyên gia về li-xăng công nghệ, những người có kinh nghiệm đàm phán, có kiến thức cả về công nghệ và SHTT và trong trường hợp lý tưởng nhất họ là những người thuộc biên chế. Có nhiều mô hình để đạt được kỹ năng đó, tuỳ thuộc vào chiến lược và nền tàng vãn hoá khác nhau, ở một số nước, cơ quan bằng độc quyền sáng chế quốc gia tận dụng chuyên môn của các nhân viên của mình để cung cấp dịch vụ cần thiết cho trường đại học và viện nghiên cứu. Ở những nước khác, tổ chức bán công hoặc tổ chức phi lợi nhuận đã được thành lập theo hướng dẫn của chính phủ, một số trong đó đã được tư nhân hoá. Những nước khác đã ban hành luật và khuyến khích trường đại học và viện nghiên cứu thành lập văn phòng li xăng công nghệ (TLOs) riêng, phù hợp với yêu cầu của hoạt động li-xăng bằng độc quyền sáng chế và để nhận tài trợ của chính phủ trong một số trường hợp. Mục tiếp theo sẽ bàn luận chi tiết về những mô hình khác nhau này.

1.2 Ví dụ cụ thể ở các nước:

Ở Hoa Kỳ, để thi hành Đạo luật Bayh-Dole một cách có hiệu quả, một số TLO đã được thành lập trong trường đại học. Nhờ đó, số thành viên của Hiệp hội các Nhà quản lý công nghệ tại trường đại học (AUTM) đã tăng từ 113 nâm 1980 lên 2.178 năm 1999. Sự gia tăng số lượng trưởng đại học và TLO được thành lập trong các trường đó đã chứng tỏ rằng việc khuyến khích và tạo điều kiện cho hoạt động chuyển giao công nghệ liên quan đến những sáng chế nhờ kết quả nghiên cứu do ngân sách liên bang tài trợ đã có hiệu quả trong việc tạo ra cầu nối giữa giới hàn lâm và khu vực tư nhân.

Để thực hiện các dự án quốc gia được công quỹ tài trợ trong những năm 1970 và 1980, Chính phủ Nhật Bản đã thành lập nhiều tập đoàn bao gồm những viện nghiên cứu của chính phủ và hãng tư nhân được lựa chọn. Tuy nhiên, nguồn tài trợ công đã cạn kiệt và việc thương mại hoá các kết quả nghiên cứu cơ bản không phải lúc nào cũng dễ dàng thành công vì những lợi ích khác nhau của các công ty tham gia. Được khuyến khích bởi thành công của Đạo luật Bayh-Dole, năm 1988, Chinh phủ Nhật đã ban hành Luật về Cơ quan Li-xăng Công nghệ. Luật này quy định một số điều kiện đối với các TLO để có thể nhận được sự hỗ trợ về tài chính từ chính phủ, nhằm giúp đỡ chi phí quản lý của họ và qua đó khuyến khích các hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa trường đại học và khu vực tư nhân. Từ khi ban hành luật này đến tháng 10 năm 2000, đã có tổng cộng 10 TLO được thành lập. Các TLO được phép nhận hỗ trợ từ chính phủ, bao gổm trợ giúp về tài chính lên đến 300.000 USD, cho những công việc có đóng góp cho chuyển giao công nghệ và dưói hình thức miễn thu khoản phí nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế mà các TLO phải trà khi nộp đơn. Các trường đại học ở Nhật Bản đã được khuyến khích thiết lập các nguyên tắc và quy chế chung về SHTT liên quan đến những sáng chế được tạo ra trong trường đại học, nhằm mang lại sự khuyến khích đối với các nhà sáng chế. Ví dụ, Trường đại học Keio quy định tỷ lệ phân chia lợi nhuận là tác giả sáng chế sẽ nhộn được 80% thu nhập từ việc thương mại hoá sáng chế, nếu tổng thu nhập dưói 1 triệu Yên (90.000 USD). Khu vực tư nhân coi TLO là một cơ chế hữu ích, chủ yếu vì hai lý do: (1) hiệu quả của việc tra cứu và tìm ra những sáng chế có ích do các trường đại học phát triển và (2) dễ dàng liên hệ với các trường đại học thông qua điểm liên hệ duy nhất tại TLO.

Gần đây, In-đô-nê-xi-a đã thực hiện những bước đi táo bạo để thiết lập cơ quan quản lý SHTT tại trường đại học và trung tâm nghiên cứu trên khắp đất nước. Hai mươi trung tâm quản lý SHTT đã được thành lập để sẫn sảng cung cấp các kỹ năng li xăng SHTT quản lý quyền SHTT tư vấn, tra cứu bằng độc quyền sáng chế và các chức năng khác để thúc đẩy "phát triển nền kinh tế quốc dân dựa trên tri thức thông qua việc khuyến khích văn hoá sáng chế, bảo hộ và bán các công trình sở hữu trì tuệ được sáng chế ra ở cả trong và ngoài ITP (Institut Teknologi Bandung).... Những nỗ lực như vậy có thể đưa In-đô-nê-xi-a lên vị trí hàng đầu với tư cách là một trong những ngôi sao mới về công nghệ và kinh tế ở châu Á.

2. Trường đại học và Li xăng bằng độc quyền sáng chế

Trường đại học và Li xăng bằng độc quyền sáng chế: Sự kết hợp hoàn hảo cho sáng tạo tri thức

Ngày càng có nhiều trường đại học trở thành doanh nghiệp. Ví dụ, Trường đại học tổng hợp Oxford ở Vương quốc Anh và 27 trường thành viên của mình gần đây đã thành lập một quỹ vốn mạo hiểm trị giá 10,7 triệu bỏng Anh (25 triệu USD) để đầu tư vào các sản phẩm phụ từ hoạt động nghiên cứu trong trưởng đại học. Quỹ của Trường Isis đầu tư vào những công ty chuyển đổi kết quả nghiên cứu trong trường đại học thành tài sản thương mại. Năm 1988, Trường đại học này đã thành lập một bộ phận đặc biệt, Isis Đổi mới, để hỗ trợ chuyển giao công nghệ từ phòng thí nghiệm sang ứng dụng thương mại, thông qua bằng độc quyền sáng chế, li-xăng và những công ty có mục đích đạc thù. Trường này đã đầu tư vào 18 công ty và hiện nay ít nhất 5 trong số đó đã được niêm yết công khai.

Năm 1995, Trường đại học Stanford ở Hoa Kỳ đã thành lập Văn phòng Chuyển giao Công nghệ của mình. Văn phòng này ban đầu là một Chương trình thử nghiệm của một người, làm ra được 55.000 USD chỉ từ 3 công nghệ. Văn phòng này đã phát triển thành một văn phòng trưởng thành với 20 người, quản lý trên 1.100 sáng chế đang hoạt động được li-xăng cho những công ty trên toàn thế giới - 220 trong số đó đã mang lại 44 triệu USD thu nhập từ tiền thù lao. Chỉ trong năm 1999-2000, Trường đại học Stanford đã đạt được được 36,9 triệu USD tổng thu nhập từ tiền thù lao, mộc dù đây là nỡm đầu tiên bằng độc quyền sáng chế DNA nổi tiếng của Conhen-Boyer không còn được nhận tiền thù lao.

Việc li-xăng các công nghệ mới có tính đột phá trong các trường đại học gia tăng nhanh chóng. Li-xăng công nghệ gương quang học được phát triển tại Viện công nghệ Massachusetts, li xăng công nghệ tế bào gốc tại Trường đại học Wisconsin, đều ở Hoa Kỳ, và li xăng công nghệ sợi quang từ Trường đại học Bath ở Vương quốc Anh, tất cả đều là những minh hoạ về việc các tổ chức nghiên cứu nổi tiếng cho phép thương mại hoá các khám phá trong nghiên cứu.

Việc các quy định về bảo hộ bằng độc quyền sáng chế và li-xăng liên quan đến những sáng chế do các nhà nghiên cứu tại trường đại học và viện nghiên cứu công lập tạo ra được đưa vào quy chế của các trường đại học này có ý nghĩa hết sức quan trọng để tới đa hoá tiềm năng của các tổ chức tri thức này. Một kế hoạch như vậy giúp tạo ra thu nhập tài chính từ thành công trong li-xăng và tạo động lực cho các nhà nghiên cứu mà bằng cách khác họ không thể tìm thấy bất cứ một lợi ích nào khi xem xét khả năng thương mại hoá các kết quả nghiên cưu của mình.

Thật không may, cho đến rất gần đây, việc yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế cho kết quả nghiên cứu của nhiều giới hàn lâm vẫn được coi là không thích hợp. Điều đó dẫn đến sự lãng phí một số tài sản tri thức có giá trị nhất ở nhiều nước. Các TLO có thể cung cấp cho các nhà nghiên cứu sựtrợ giúp cần thiết để theo đuổi việc thương mại hoá các sáng chế của mình. Các nhà hoạch định chính sách phải hiểu rằng cần có nhiều bước đi và kỹ năng quản lý hoạt động li-xăng bằng độc quyền sáng chế, để thu hẹp khoảng cách giữa các hoạt động nghiên cứu hàn lâm và khu vực tư nhân. Những bước đi và kỹ năng này bao gồm việc phân tích bản chất của sáng chế, chuẩn bị và xử lý tốt các đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế, tìm kiếm các bên nhận li- xăng tiềm nâng, đàm phán li-xăng và định giá sáng chế. Các khoản lợi nhuận tiềm năng và lợi nhuận thực tế từ li-xăng sẽ khuyến khích các trưởng đại học và các nhà nghiên cứu hàn lâm thực hiện những nỗ lực như vậy và cũng sẽ mang lại nguổn thu nhập bổ sung để mở rộng hoạt động nghiên cứu của mình.

3. Tư nhân hóa cơ quan chuyển giao công nghệ:

Một số tổ chức được thành lập với mục đích ban đầu là trợ giúp chuyển giao công nghệ đối với kết quả nghiên cứu do quỹ công tài trợ đã được tư nhân hoá. Việc làm này đã giúp mở rộng phạm vi kinh doanh của họ và tạo ra sự linh hoạt hơn trong hoạt động của họ. Công ty Nghiên cứu phát triển Quốc gia (NRDC) là một ví dụ như vậy. Được chính phủ Vương quốc Anh thành lập vào năm 1948 để hỗ trợ thương mại hoá các sáng chế thu được từ hoạt động nghiên cứu do quỹ công tài trợ tại các trường đại học và viện nghiên cứu công lập thông qua việc sử dụng li xăng bằng độc quyền sáng chế, NRDC đã trở thành Tập đoàn Công nghệ Anh (BTG) vào năm 1981. Thu nhập của BTG một phần phụ thuộc vào vào phí li- xăng và một phần phụ thuộc vào cổ phiếu của các doanh nghiệp được thành lập nhờ kết quả của sự đổi mới mà BTG tham gia. BTG đã mở rộng phạm vi trách nhiệm nhằm tập hợp những công nghệ liên quan, dưói dạng một gói công nghệ hoặc danh mục bằng độc quyền sáng chế, để bán dưói dạng công nghệ sẵn sàng cho thương mại hoá. Xin nêu một ví dụ, tạo ảnh cộng hưởng từ tính (MRI) là một công nghệ kết hợp các sáng chế được phát triển bởi các trường đại học Nottingham, Aberdeen và Oxford. Là một bước đột phá rất quan trọng trong y học, MRI đã mang lại cho tổ chức này khoảng 150 triệu USD.

Fraunhofer-Gesellschaft là một ví dụ khác. Tổ chức này ban đầu được thành lập dưới danh nghĩa một viện nghiên cứu của vùng Bavaria ở Munich vào năm 1949, là một bộ phận trong Chương trình tổ chức lại và mở rộng cơ sở hạ tầng nghiên cứu của Đức. Tổ chức này đã phát triển thành tổ chức lớn nhất ở Đức trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học ứng dụng. Nó có định hướng rõ rằng tới nhu cầu đổi mới của ngành công nghiệp. Các hoạt động của nó tập trung vào những lĩnh vực nghiên cứu mà kết quả đạt được lại có lợi trực tiếp cho các đối tác quan trọng nhất của nó - các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Năm 1952, Bộ Kinh tế Cộng hoà Liên bang Đức đã phê chuẩn vai trò của Fraunhofer- Gesellschaft như là cơ cấu hỗ trợ then chốt thứ ba cho hoạt động nghiên cứu của Đức, bên cạnh Deutsche Forschungsgemeinschaft (DFG) và Max-Planck-Gesselschaft (MPG). Năm 1969, Fraunhofer- Gesellschaft đã được đưa vào kế hoạch tài trợ cơ bản của chính phủ và năm 1973 một quyết định của nội các đã phê duyệt ý tưởng được gọi là "mô hình Fraunhofer", theo đó tài trợ của nhà nước đã tăng theo tỷ lệ với thành công của Fraunhofer-Gesellschaft trong việc tìm kiếm đề tài nghiên cứu theo hợp đồng. Quyết định này có nghĩa là kết quả R&D phải được định hướng nghiêm ngặt sao cho phù hợp với thị trường, qua đó khẳng định rằng những người ra quyết định của chính phủ rất muốn biến Fraunhofer-Gesellschaft thành một tổ chức bảo trợ hàng đầu cho các viện nghiên cứu ứng dụng. Đến năm 1978, Chương trình thúc đẩy nghiên cứu theo hợp đồng cho SME của Fraunhofer đã phát triển thành một Chương trình toàn quốc của chính phủ để hỗ trợ SME, đạt được sự tăng trưởng quan trọng và uy tín cao. Năm 1999, 50 năm sau khi được thành lập, Fraunhofer-Gesellschaft có 9.300 nhân viên, làm việc tại 47 viện và làm ra khoảng 1,4 tỷ DM (640 triệu USD) thu nhập hàng năm. Từ năm 1992 đến nay, Fraunhofer-Gesellschaft luôn luôn là người nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế thành đạt nhất trong số tất cả các cơ sở nghiên cứu được nhà nước tài trợ ở Đức (ví dụ, năm 1999, tổ chức này xếp thứ 18 ở Đức về số bằng độc quyền sáng chế đã công bố đang có hiệu lực ở nước này). Trung tâm Bằng độc quyền sáng chế của Fraunhofer-Gesellschaft không chỉ thay mặt cho Fraunhofer- Gesellschaft trong tất cả các vấn đề liên quan đến bằng độc quyền sáng chế mà còn là một đối tác của cộng đồng nghiên cứu và ngành công nghiệp. Dịch vụ của Trung tâm bao gồm việc định giá sáng chế, nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế, li-xăng, tư vấn công nghệ, xây dựng chiến lược cũng như đánh giá bằng độc quyền sáng chế và công nghệ. Trung tâm xúc tiến những sáng chế thu được trong hoạt động nghiên cứu được tiến hành tại trường đại học và cơ sở nghiên cứu khác, cũng như sáng chế của SME và cá nhân. Trung tâm cũng xúc tiến việc thương mại hoá các sáng chế được cấp bằng độc quyền sáng chế, bằng cách tạo điều điều thuận lợi cho hợp đồng li xăng với ngành công nghiệp. Trung tâm này tư vấn cho các công ty về việc lập kế hoạch và phát triển sản phẩm mới, đồng thời hoạt động như một nhà môi giới công nghệ đổi mới, nhờ sử dụng thông tin bằng độc quyền sáng chế.

Có thể tìm thấy một ví dụ tương tự khác ở lx-ra-en. Năm 1949, Tổng thống đầu tiên của lx-ra-en là một nhà hoá học nổi tiếng Tiến sỹ Chaim Weizmann đã thành lập Viện Khoa học Weizmann, cơ quan hàn lâm đầu tiên ở lx-ra-en, để lập ra một tổ chức chuyển giao công nghệ nhằm thúc đẩy việc thương mại hoá các kết quả nghiên cứu của Viện, với vai trò một chi nhánh để li-xăng các kết quả nghiên cứu của Viện, Công ty trách nhiệm hữu hạn nghiên cứu và triển khai Yeda đã được thành lập năm 1959 dưói hình thức một công ty tư nhân; nó có nhiệm vụ tìm ra các đối tác công nghiệp thích hợp để giúp các khám phá của Viện vượt qua các bước quan trọng từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Hoạt động của Yeda là xác định và đánh giá các dự án nghiên cứu có tiềm năng thương mại; yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế cho các sáng chế và bảo hộ SHTT của Viện cũng như các nhà khoa học của Viện về nhiều mặt; thu hút tài trợ cho các dự án để đổi lấy quyền khai thác thương mại các kết quả của dự án; li-xăng sáng chế và công nghệ cho ngành công nghiệp. Ngày nay, Yeda là một trong các tổ chức hàng đầu trong yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế ở lx-ra-en. Trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến 1999, Yeda đã được cấp 108 bằng độc quyền sáng chế ở Hoa Kỳ. Các bằng độc quyền sáng chế này được li-xăng trên phạm vi quốc tế, thường là dưới dạng liên danh với các hãng đóng gần Khu công nghiệp Kiryat Weizemann, khu công nghệ cao đầu tiền của lx-ra-en.“

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê