1. Làm gì khi cơ quan BHXH chốt sổ bảo hiểm xã hội bị sai ?

Kính chào công ty luật Minh Khuê! Tôi có một số thắc mắc xin được tư vấn như sau: Trước đây vào năm 2009, BHXH tỉnh đã chốt sổ BHXH cho tôi, xác nhận thời gian đóng BHXH tại Công ty từ tháng 10/2000 đến tháng 04/2009 là 08 năm 07 tháng.

Sau đó tôi làm việc tại Công ty TNHH từ tháng 05/2009 đến tháng 12/2014. Tuy nhiên đến năm 2015, BHXH tỉnh đã tự hủy kết quả 08 năm 07 tháng của tôi ở CTy và chỉ xác nhận thời gian đóng BHXH từ tháng 10/2000 đến tháng 12/2008 là 08 năm 3 tháng,làm mất đi 04 tháng BHXH trong năm 2009. Đồng thời, BHXH cũng chỉ chốt sổ BHXH cho tôi ở Công ty từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2014 mà không xác nhận thời gian tham gia BHXH của tôi từ tháng 5/2009 đến tháng 12/2009,làm mất 8 tháng BHXH của tôi nữa.

Vậy, tổng thời gian tham gia BHXH của tôi đã bị mất đi 12 tháng so với thực tế (trọn năm 2009) Tôi đã nhiều lần đến BHXH làm thủ tục giải quyết nhưng vẫn chưa thỏa đáng vì BHXH tỉnh yêu cầu "Trả về đơn vị chốt sổ cho NLĐ từ tháng 10/2000 đến tháng 04/2009" Chúng tôi thấy Thông báo của BHXH tỉnh là không hợp lý vì thời gian đó, CTy đã chốt đúng và đủ thời gian tham gia BHXH của tôi là 8 năm 7 tháng, nên nghiễm nhiên họ không phải thực hiện yêu cầu vô lý này. Tôi đã nhiều lần gởi công văn đến BHXH tỉnh nhưng họ không hề hồi âm. Tôi nhiều lần đến cơ quan BHXH tỉnh thì lần nào họ cũng yêu cầu nộp hồ sơ ở bộ phận 1 cửa, rồi chờ kết quả và lần nào cũng nhận kết quả như nhau là "Trả về đơn vị chốt sổ cho NLĐ từ tháng 10/2000 đến tháng 04/2009" Tôi thực sự mất niềm tin ở cách giải quyết của BHXH tỉnh.

Nay, kính nhờ quý Luật sư tư vấn giúp cho tôi có hướng tháo gỡ để đảm bảo công bằng và lợi ích chính đáng của công dân.

Tôi xin chân thành cám ơn Luật sư và quý Công ty

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ vào những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi nhận thấy vấn đề bạn đang thắc mắc ở đây là việc: khi tiến hành chốt sổ BHXH cho bạn BHXH tỉnh Khành Hòa đã không tính đến thời gian bạn tham gia BHXH vào năm 2009, làm mất trọn 1 năm (12 tháng) đóng BHXH của bạn. Về vấn đề này, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì:

"Thời gian đóng bảo hiểm xã hội là thời gian được tính từ khi người lao động bắt đầu đóng bảo hiểm xã hội cho đến khi dừng đóng. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội không liên tục thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội".

Thêm vào đó, Luật bảo hiểm xã hội cũng quy định trách nhiệm của người SDLĐ về BHXH đối với NLĐ tại Điều 21 như sau:

"2. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.

4. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động.

5. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật".

Đồng thời, theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012 cũng quy định:

"Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động".

Như vậy, thời gian đóng BHXH là thời gian được tính từ khi NLĐ bắt đầu đóng BHXH cho đến khi dứng đóng, trường hợp đóng BHXH không iên tục thì hời gian đóng BHXH là tổng thời gian đóng BHXH.

Đối với trường hợp của bạn, bạn đã tham gia đóng BHXH từ tháng 10 năm 2000 (đây là thời gian bắt đầu đóng BHXH cho đên sthangs 4 năm 2009 thì bạn dừng đóng, như vậy, thời gian đóng BHXH của bạn là 8 năm 7 tháng như bạn nói, và khi bạn đến làm tại công ty khác, bạn vẫn tiếp tục tham gia BHXH từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 12 năm 2014, như vậy, tổng thời gian đóng BHXH của bạn là 14 năm 2 tháng.

Theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, NSDLĐ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan BHXH xác nhận thời gian đóng BHXH cho NLĐ khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ. Trong trường hợp này, BHXH tỉnh đã tiến hành chốt sổ BHXH không đúng với thời gian thực đóng BHXH của bạn (thiếu đi 4 tháng như thông tin bạn cung cấp) đồng thời yêu cầu bạn "trả về đơn vị chốt sổ BHXH cho NLĐ từ tháng 10 năm 2000 đến tháng 4 năm 2009", theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì giữa NSDLĐ và cơ quan BHXH phải phối hợp với nhau về việc trả sổ BHXH cho NLĐ khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ, vì vậy, trường hợp này, bạn nên kiến nghị với công ty để công ty này thực hiện đúng trách nhiệm của NSDLĐ khi thực hiện việc trả sổ BHXH cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quy định mới nhất về chốt sổ bảo hiểm xã hội ? Hướng dẫn thủ tục chốt sổ bảo hiểm xã hội ?

2. Người lao động phải làm gì khi không chốt được sổ bảo hiểm ?

Thưa luật sư, Tháng 6 năm 2014 tôi tham gia BHXH của BH quân đội đến tháng 9 năm 2015, tôi xin chuyển công tác về quê và dừng đóng BHXH và được chốt sổ đầy đủ. Tháng 1 năm 2006 tôi xin vào làm việc ở 1 công ty TNHH tư nhân cạnh nhà và tham gia BHXH từ đó đến tận tháng 4 năm 2012. Nhưng công ty này hàng tháng vẫn trừ tiền BHXH của người lao động trên bảng lương nhưng lại trốn đóng cho cơ quan BHXH, họ chỉ đóng từ tháng 1/2006 đến hết 9/2008 còn lại từ tháng 10/2008 đến T4/2012 là nợ.
Công ty đó không hoạt động nữa và cho một người nước ngoài thuê lại mặt bằng nhà xưởng và đăng ký kinh doanh công ty khác( Nhưng không tuyên bố phá sản và giải thể mà vẫn để tên trên đăng ký kinh doanh). Tôi lại tiếp tục làm việc cho công ty thuê lại mặt bằng trên, và tham gia BHXH ở công ty này từ tháng 10/2012 và làm sổ BHXH mới cho đến bây giờ. Nhưng bây giờ bên phía BHXH lại nói rằng phải thu hồi sổ BHXH đóng ở công ty mới này của chúng tôi vì mỗi người chỉ có 1 sổ BH và theo sổ cũ thì chúng tôi không thể chốt được, Vậy luật sư cho chúng tôi hỏi chúng tôi phải làm thế nào? Chúng tôi đã gặp trực tiếp ông GDBHXH đề nghị doanh nghiệp kia đóng dến T9/2008 thì chốt cho chứng tôi đến T9/2008 còn lại hủy thời gian kia đi hoặc cho chúng tôi tự đóng tiền đến hết để chốt sổ cho chúng tôi nối tiếp nhưng ông ấy nói đều không được và không giaỉ quyết gì cho chúng tôi. Bên BH đã kiện công ty ấy ra tòa từ năm 2012 nhưng công ty ấy không thực hiện thi hành án của tòa và cả 2 bên công ty và BH cứ bỏ mặc người lao động ở giữa mắc kẹt không làm được gì vì không chốt được sổ kể cả có người đã chết ?
Xin luật gia tư vấn chúng tôi xin chân thành cảm ơn, chúng tôi sẽ hậu tạ.

>> Xem thêm:  Thủ tục hưởng bảo hiểm xã hội: Chốt sổ, đóng nối sổ bảo hiểm xã hội và điều kiện nhận trợ cấp một lần ?

3. Có được hưởng chế độ thai sản và thất nghiệp khi chốt sổ BHXH không ?

Chào quý công ty. Tôi muốn hỏi vấn đề như sau: Tôi tham gia đóng BHXH từ tháng 8/2015, hiện tôi đang có bầu và dự sinh vào ngày 30/08/2016. Nếu tôi làm hết tháng 7/2016 và đến đầu tháng 8/2016 tôi xin nghỉ sinh (và nghỉ hẳn ở công ty). Đầu tháng 8 công ty sẽ làm thủ tục báo giảm đóng BHXH, và thực hiện chốt sổ cho tôi ;
1. Vậy tôi có đủ điều kiện để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp không?
2. Nếu tôi đã được hưởng BHTN rồi thì sau khi sinh con, tôi có được hưởng thai sản nữa không? Nếu được thì 6 tháng hưởng chế độ thai sản của tôi có được tính vào thời gian tham gia bảo hiểm xã hội – được thể hiện trong số BHXH không? Do đã thực hiện chốt sổ vào thời điểm quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đầu tháng 8/2016, nên tôi muốn hỏi là sau khi được hưởng chế độ thai sản thì bên BHXH có chốt lại sổ BHXH cho tôi không?
Rất mong công ty tư vấn hoặc có những hướng tốt hơn cho tôi. Mong sớm nhận được hồi đáp từ quý công ty. Xin trân trọng cảm ơn!

Có được hưởng chế độ thai sản và thất nghiệp khi chốt sổ BHXH không ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp

Điều 49 Luật việc làm số 38/2013/QH13 của Quốc hội quy định về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại tủng tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của luật này

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

Như vậy, nếu bạn làm việc trong công ty với hợp đồng không xác định thời hạn thì trường hợp của bạn đã có thời gian 12 tháng nộp bảo hiểm thất nghiệp (từ tháng 8/2015 đến hết tháng 7/2016) nên bạn sẽ được hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp. Bạn phải làm hồ sơ gửi đến trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 3 tháng kể từ khi chấm dứt hợp đồng làm việc. Trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ ra quyết định cho hưởng trợ cấp thất nghiệp (nếu không thì phải thông báo bằng văn bản).

Hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định tại Điều 16 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp như sau:

1. Đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

2. Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc

3. Sổ bảo hiểm xã hội (sau khi công ty chốt sổ thì bạn sẽ được trả lại sổ).

Thứ hai, về việc hưởng chế độ thai sản

Điều 31 Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 của Quốc hội quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau:

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;

e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.

2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

4. Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này.

Như vậy, cho dù bạn nghỉ việc và hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp thì vẫn sẽ được hưởng chế độ thai sản.

Hồ sơ hưởng chế độ thai sản được quy định tại Điều 101 khoản 1 Luật Bảo hiểm xã hội như sau:

1. Hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con bao gồm:

a) Bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con;

b) Bản sao giấy chứng tử của con trong trường hợp con chết, bản sao giấy chứng tử của mẹ trong trường hợp sau khi sinh con mà mẹ chết;

c) Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về tình trạng người mẹ sau khi sinh con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con;

d) Trích sao hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ trong trường hợp con chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh;

đ) Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc lao động nữ phải nghỉ việc để dưỡng thai đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 31 của Luật này.

Bạn sẽ được nghỉ chế độ thai sản trong vòng 06 tháng. Trong thời gian này bạn đã nghỉ việc, tạm dừng đóng BHXH, công ty đã chốt sổ BHXH cho bạn vào đầu tháng 8 nên thời gian nghỉ này sẽ không được tính vào thời gian đóng BHXH. Khi tìm được công việc mới, tiếp tục đóng BHXH ở công ty mới thì bạn mới được tính tiếp tục vào thời gian đóng BHXH.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Nghỉ việc không chốt bảo hiểm xã hội giờ phải làm sao ? Thủ tục chốt sổ BHXH cho người lao động ?

4. Làm sao để xin chốt khoảng thời gian còn thiếu của BHXH ?

Kính chào luật sư! Tôi có một người bạn có một rắc rối này muốn được luật sư tư vấn. Bạn tôi là một viên chức nhà nước từ năm 2005. Vì lý do riêng bạn tôi đã bỏ ngang công việc vào tháng 5/2015 và đến nơi khác công tác. Bạn tôi hiện đang cầm sổ Bảo hiểm xã hội nhưng mới chốt đến hết năm 2012. Vì lý do nghỉ việc như vậy nên bạn tôi không muốn quay lại cơ quan cũ để xin chốt khoảng thời gian còn thiếu.
Bạn tôi còn cách nào để chốt không và nếu được thì thủ tục như thế nào?
Rất mong được luật sư tư vấn! Chân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào điều 47 Bộ luật lao động 2012 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động".

Căn cứ vào quy định này thì khi bạn anh chấm dứt hợp đồng lao động đơn vị nơi bạn anh làm việc có trách nhiệm làm thủ tục chốt sổ bảo hiểm và trả sổ bảo hiểm lại cho bạn anh. Nếu như sau khi đơn vị trả sổ mới phát hiện ra là đơn vị chốt thiếu thời gian đóng bảo hiểm cho mình thì bạn anh có thể liên hệ lại với đơn vị để yêu cầu họ giải quyết cho mình.

Nhưng vì một lý do nào đó bạn anh không thể quay lại đơn vị trước khi mình làm thủ tục yêu cầu đơn vị giải thích và yêu cầu đơn vị thực hiện chốt sổ trong khoảng thời gian bị chốt thiếu thì bạn anh có thể ủy quyền cho anh hoặc một người khác thay mặt bạn anh thực hiện công việc trên, có nghĩa là bạn anh có thể ủy quyền cho một người đại diện cho mình đến đơn vị để thực hiện các công việc như yêu cầu đơn vị giải thích việc chốt thiếu, yêu cầu đơn vị thực hiện chốt sổ bảo hiểm tại đơn vị trước đây bạn anh làm việc theo quy định tại điều 142 của Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 142. Đại diện theo uỷ quyền

1. Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện.

2. Hình thức uỷ quyền do các bên thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản".

Bạn anh có thể lập một hợp đồng ủy quyền với các nội dung như phạm vi ủy quyền, có nghĩa là ủy quyền cho người được ủy quyền được thay mặt mình thực hiện những công việc gì, chỉ thực hiện thay mặt mình liên hệ với đơn vị cũ để chốt sổ bảo hiểm thay cho mình hay còn ủy quyền cho thực hiện các công việc khác, vấn đề này sẽ do hai người trong hợp đồng thỏa thuận với nhau.

Anh có thể tham khảo mẫu hợp đồng ủy quyền để có thể soạn một hợp đồng ủy quyền để tránh trường hợp khi người được ủy quyền đến thay mặt anh lại bị đơn vị từ chối vì không có giấy tờ chứng minh là người này đã được bạn anh ủy quyền thay mặt mình thực hiện các hoạt động liên quan đến chốt sổ bảo hiểm.

Trước khi tiến hành bước này bạn anh có thể làm đơn yêu cầu đơn vị giải thích rõ tại sao lại chốt thiếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho mình rồi sau đó chờ phản hồi hoặc không thấy phản hồi mới tiến hành ủy quyền để đến trực tiếp đơn vị làm việc.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Xin hủy sổ bảo hiểm xã hội do công ty cũ không chốt sổ bảo hiểm xã hội có được không ? Điều kiện chốt sổ BHXH ?

5. Mất thời gian đóng BHXH do công ty cũ chưa chốt được sổ ?

Kính chào Luật sư. Tôi có câu hỏi muốn nhờ Luật sư tư vấn. Tháng 11 năm 2010 tôi làm bắt đầu đóng bảo hiểm tại công ty A. Đến tháng 4 năm 2013 công ty giải thể nhưng chưa tuyên bố phá sản. Trong những năm đóng bảo hiểm tôi vẫn có bảo hiểm y tế tại bệnh viện X, Hà Nội. Nhưng sau khi nghỉ việc tôi có hỏi bộ phận kế toán thì được biết công ty mới đóng bảo hiểm đến hết tháng 9 năm 2011.

Và có photo cho tôi 1 bìa sổ bảo hiểm có số sổ ở đó (sau này khi tra cứu thông tin trên bảo hiểm xã hội Hà Nội tôi cũng nhận được thông tin như vậy). Từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 8 năm 2015 tôi có làm việc ở một công ty B khi họ yêu cầu đóng bảo hiểm tôi nói lý do chưa chốt được sổ cũ nên không đóng bảo hiểm nữa (mất hơn 2 năm không đóng). Nhưng đến nay tháng 9 năm 2015 tôi vào làm cho một công ty nước ngoài và họ yêu cầu phải đóng bảo hiểm nên tôi đã bảo họ đóng cho sổ mới và họ đã đồng ý đóng sổ mới cho tôi từ tháng 11 năm 2015. Thật sự tôi phải đóng vì tôi đã mất thời gian hơn 2 năm bỏ phí ở công ty B do đợi chờ sổ bảo hiểm rồi.

Vậy tôi xin hỏi luật sư trường hợp này của tôi là như thế nào? Sao công ty A không đóng bảo hiểm cho tôi từ tháng 9 năm 2011 mà trong 2 năm 2012, 2013 tôi vẫn có bảo hiểm y tế? Nếu công ty A không chốt sổ bảo hiểm cho tôi thì làm cách nào để tôi lấy được sổ hay là xác định mất sổ đó (theo tìm hiểu của tôi công ty A khó có khả năng chốt sổ được vì trước đây công ty A là một siêu thị điện máy lớn rất đông nhân viên nên số tiền để chốt là rất lớn)?

Trân trọng cảm ơn Luật sư!

Người gửi: V.H

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật lao động: 1900.6162

Trả lời:

Về vấn đề thẻ bảo hiểm y tế (BHYT), Luật bảo hiểm y tế 2008, sửa đổi bổ sung 2014 có quy định về phương thức đóng BHYT là: "hằng tháng, người sử dụng lao động đóng bảo hiểm y tế cho người lao động và trích tiền đóng bảo hiểm y tế từ tiền lương của người lao động để nộp cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm y tế". Thẻ BHYT chỉ được cấp cho người lao động đúng hạn khi người sử dụng lao động đóng phần tiền trích lương đầy đủ và đúng hạn vào quỹ BHYT, nếu không đóng đủ hoặc không đúng hạn thì người lao động không thể nhận được thẻ BHYT. Trong trường hợp này có thể công ty của bạn dừng đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) nhưng vẫn đóng BHYT đầy đủ.

Về vấn đề công ty không chốt sổ BHXH cho bạn, trong trường hợp bạn muốn nhanh chóng chốt sổ mà Công ty kéo dài thời gian, không chịu hoặc không có khả năng giải quyết, bạn có thể tố cáo hành vi này lên các cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết như thanh tra Sở lao động, thương binh & xã hội tại quận, huyện mà công ty đặt trụ sở,...để tiến hành chốt sổ cho mình, đảm bảo quyền lợi cho bản thân mình. Quyết định 959/QĐ-BHXH có quy định rõ:

"2. Cấp, ghi và xác nhận trên sổ BHXH

2.1. BHXH huyện:

a) Cấp mới, cấp lại, điều chỉnh, xác nhận, chốt sổ BHXH và ghi thời gian đóng BHTN đã được hưởng trợ cấp thất nghiệp cho người tham gia BHXH tại đơn vị do BHXH huyện trực tiếp thu, người đã hưởng BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian đóng BHXH, BHTN...."

Ngoài ra, trong trường hợp công ty vẫn không thực hiện theo quy định của pháp luật, bạn có thể giải quyết tranh chấp theo quy định của Bộ luật lao động 2012:

"Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân".

"Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết".

Theo đó, bạn gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp quận (huyện, thành phố trực thuộc trung ương) nơi công ty đang có trụ sở.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Bảo hiểm xã hội - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn về thời gian chốt sổ bảo hiểm xã hội (BHXH) ? Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp ?