1. Nghĩa vụ bàn giao tài liệu sau khi chấm dứt hợp đồng lao động ?

Thưa luật sư, Tôi ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) thời hạn 03 năm (từ ngày 26/08/2015 - 26/08/2018) với Ngân hàng A. Người đứng tên ký HĐLĐ với tôi là ông Phó Tổng giám đốc (theo ủy quyền của TGĐ). Tuy nhiên, trong quá trình lao động, tôi cảm thấy không được lãnh đạo trực tiếp (lãnh đạo cấp Phòng/Ban) đánh giá đúng năng lực khiến tôi không có động lực làm việc.
(không thực hiện họp đánh giá công việc và năng lực cán bộ một cách công khai, minh bạch theo quy định nội bộ của NGÂN HÀNG A về đánh giá cán bộ), chị lãnh đạo này cũng không có chuyên môn, nghiệp vụ đúng về mảng công việc của đơn vị nên tôi cũng không được hỗ trợ gì về kiến thức chuyên môn.
Ngày 7/12/2016, tôi nộp đơn nghỉ việc cho bộ phận nhân sự, có thông báo đến lãnh đạo trực tiếp, ban tổng giám đốc, bộ phận nhân sự của văn phòng. tôi có văn bản chấp thuận của NGÂN HÀNG A về đề nghị nghỉ việc của tối, chấp thuận đồng ý cho tôi chấm dứt hđlđ từ ngày 5/1/2017. Ngày ký văn bản là 7/1/2017. Trong suốt 30 ngày kể từ 7/12/2016 đến 5/1/2017, tôi đã tiến hành bàn giao tất cả các công việc đang thực hiện và các tài liệu, hồ sơ liên quan và hướng dẫn cán bộ tiếp nhận thực hiện một cách cụ thể, nhiệt tình. tôi cũng đã giao lại toàn bộ các hồ sơ liên quan đến các công việc tôi đã hoàn thành trước đó. trong khoảng thời gian 30 ngày đó từ khi tôi nộp đơn nghỉ việc (7/12/2016), cũng như trong khoảng thời gian 30 ngày tiếp theo kể từ ngày tôi được chấp thuận nghỉ việc (6/1/2017), tôi cũng không hề nhận được bất cứ một yêu cầu chính thức nào từ chị lãnh đạo trực tiếp về những tài liệu khác cần bàn giao. đến nay (14/3/2017), NGÂN HÀNG A vẫn không giải quyết các thủ tục nghỉ việc và không trả sổ bhxh cho tôi, lý do là vì lãnh đạo trực tiếp cũ của tôi (lãnh đạo phòng/ban) không ký biên bản bàn giao. lý do chị lãnh đạo này không ký là vì nói rằng tôi đã xóa hết dữ liệu trên máy tính cá nhân (tôi đã bàn giao toàn bộ tài liệu liên quan đến công việc và các file mềm liên quan đến các công việc đang xử lý, cần bàn giao tại thời điểm tôi nghỉ việc):
*yêu cầu tôi xin nghỉ làm để đến cơ quan cũ thực hiện bàn giao lại một lần nữa các tài liệu, nếu không sẽ vẫn không ký biên bản bàn giao*. chị ta còn yêu cầu tôi *liệt kê danh sách tất cả các văn bản tôi đã soạn thảo trong vòng 03 năm làm việc (khoảng vài trăm văn bản),* nếu tôi không thực hiện thì *yêu cầu bộ phận nhân sự không trả sổ bảo hiểm cho tôi* và* đòi gửi thông báo đến đơn vị công tác mới của tôi.
* Vậy, tôi xin nhờ quý văn phòng luật tư vấn giúp tôi:
- Yêu cầu và những việc làm của chị lãnh đạo trực tiếp này là đúng hay sai theo pháp luật? Tôi rất mong sớm được quý văn phòng hỗ trợ tư vấn! xin trân trọng cảm ơn quý văn phòng!

Trả lời:

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật lao động 2019 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng:

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Theo như bạn trình bày trong khoảng thời gian 30 ngày tiếp theo kể từ ngày được chấp thuận nghỉ việc, bạn không hề nhận được bất cứ một yêu cầu chính thức nào từ chị lãnh đạo trực tiếp về những tài liệu khác cần bàn giao, điều đó có nghĩa rằng việc bàn giao công của bạn đã hoàn thành và không có vấn đề gì xảy ra. Mặt khác, theo quy định trên, NSDLĐ có trách nhiệm nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Như vậy, việc làm của lãnh đạo công ty cũ của bạn là trái với quy định của pháp luật lao động.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án lao động tại toà án

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về "Hỏi về việc chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) và bàn giao tài liệu khi chấm dứt hợp đồng lao động ?" . Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Khoản bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được quy định như thế nào?

2. Chấm dứt hợp đồng lao động vì bị trả lương muộn ?

Thưa Luật sư. Chị H làm việc tại công ty Phú Thịnh loại hợp đồng có xác định thời hạn, làm công ty kỹ thuật viên vi tính, địa điểm làm việc tại quận 1, mức lương 3.100.000 đồng trả vào ngày 30 hàng tháng (tháng dương lịch).
Tuy nhiên tiền lương đó chị được lĩnh trễ hơn so với thỏa thuận hợp đồng. Do đó, sau 3 tháng làm việc chị H quyết định gửi đơn xin nghỉ việc và sau 3 ngày làm việc là chị H chấm dứt hợp đồng lao động? Luật sư cho em hỏi chị H chấm dứt hợp đồng đúng hay sai? Vì sao? Căn cứ các quy định pháp luật giải quyết trong trường hợp này như thế nào có lợi cho người lao động?

Hỏi về việc chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) và bàn giao tài liệu sau khi chấm dứt hợp đồng lao động ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại gọi:1900.6162\

Trả lời:

- Theo quy định tại điều 37, Bộ luật lao động 2019

Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Do hợp đồng giữa chị H và công ty là hợp đồng xác định thời hạn cho nên khi chị H muốn chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do không được trả lương đúng hạn thì phải báo trước ít nhất 30 ngày. Chị H báo trước 3 ngày mà đã nghỉ việc cho nên chị H chấm dứt trái luật theo điểm b, khoản 2, điều 36 Bộ luật lao động 2019

Khi chấm dứt hợp đồng lao động trái luật thì theo quy định tại điều 43, Bộ luật lao động 2019 thì người lao động có các nghĩa vụ sau đây:

Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có được hưởng quyền lợi?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  10 điểm mới về hợp đồng lao động có hiệu lực từ 01/01/2021

3. Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động như vậy có đúng pháp luật không?

Thưa Luật sư. Em có một người bạn xin được tư vấn về Luật lao động khi chấm đứt hợp đồng Lao động có xác định thời hạn. Chị B làm việc tại một công Ty X hợp đồng có xác định thời hạn, công ty đóng tại Quận 1, Lương hàng tháng là 5.100.000 ( Công ty sẽ trả lương vào hàng tháng 30 dương lịch).
Tuy nhiên tiền lương hàng tháng của công ty luôn trả trễ theo quy định trong hợp đồng. Chị B đã làm việc được 3 tháng và làm đơn xin nghỉ việc, sau 3 ngày làm việc thì chị ấy quyết định chấm đứt hợp đồng. Quý Công ty chưa ký quyết định cho chị B nghĩ việc.
Vậy Chị muốn hỏi chị chấm dứt hợp đồng như vậy đúng hay sai ? Căn cứ quy định pháp luật thì công ty phải giải quyết thế nào để người lao động có quyền lợi ?
Tôi xin cảm ơn.

Chấm dứt hợp đồng lao động vì bị trả lương muộn ?

Luật sư tư vấn luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn,cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ Điều 94 Bộ luật lao động năm 2019

Điều 94. Nguyên tắc trả lương

1. Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.

2. Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

Như vậy, doanh nghiệp được quyền trả chậm lương cho người lao động không được quá 01 tháng và khi trả chậm cần phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi cho Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm trả lương.Do đó khi công ty trả lương không theo quy định trên thì hiện chị B muốn chấm dứt HĐLĐ với công ty và đã báo trước cho công ty 3 ngày làm việc:

Căn cứ Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019

Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Như vậy việc chị B chấm dứt HĐLĐ như vậy là hoàn toàn hợp pháp bởi căn cứ theo quy định tại Điều 36 BLLĐ 2019 thì chị B đã tuân thủ cả về căn cứ cũng như về thời hạn báo trước ( theo điểm a khoản 2 Điều 37 BLLĐ). Cụ thể như sau:Như vậy việc chị B làm vậy là đúng pháp luật. Trong trường hợp này công ty có trách nhiệm theo Điều 48 BLLĐ như sau:

Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi không trả lương đúng theo thỏa thuận?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bồi thường chi phí đào tạo khi chấm dứt hợp đồng lao động được xác định như thế nào ?

4. Điều kiện để công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Thưa luật sư, Em mới vào làm việc ở một công ty tư vấn. Công ty em mới thành lập hơn một năm và có khá ít người (18 người). Em có một số câu hỏi hiện rất mong các anh/chị luật sư giải đáp:
Nếu công ty muốn đơn phương chấm dứt HĐLĐ:

1. Trường hợp công ty chưa thành lập được Công đoàn thì sao?

2. Hợp đồng lao động hết hiệu lực trong thời gian người lao động đang trong thời gian nghỉ dưỡng dài ngày, nghỉ thai sản. Công ty có được phép chấm dứt HĐ theo thời hạn này không? Hay phải đợi đến khi người lao động đi làm lại? Luật có quy định nào đặc biệt về vấn đề này hay không?

3. Có nhất thiết phải làm thủ tục báo cáo với Phòng, sở LĐ-TB-XH hay không? Nếu bắt buộc nhưng không làm thì bị xử phạt như thế nào?

4. Điều 43 luật Lao động có đề cập:

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Xin hỏi như thế nào mới có thể được xem xét là “trường hợp đặc biệt” ?

Em xin cám ơn!

Người gửi: LV Hiền

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi: 1900.6162

Điều kiện chấm dứt hợp đồng lao động?

Điều kiện chấm dứt hợp đồng lao động - Ảnh minh họa

Trả lời:

Thứ nhất, về việc thành lập Công đoàn.

Căn cứ Điều 1 Luật Công đoàn năm 2012:

“Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”

Do việc thành lập Công đoàn là trên cơ sở tự nguyện, không bắt buộc nên khi Công ty bạn chưa thành lập công đoàn cơ sở thì công đoàn cấp trên trực tiếp cấp cơ sở sẽ thưc hiện trách nhiệm như công đoàn cơ sở. Công ty bạn muốn đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động với người lao động thì có quyền đơn phương theo quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019

“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

Nếu Công ty bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ với người lao động không thuộc một trong các trường hợp quy định trên thì sẽ chấm dứt trái pháp luật, khi đó Công ty bạn phải bồi thường cho người lao động theo Điều 42 Bộ luật lao động.

5. Chấm dứt Hợp đồng lao động.

Hợp đồng lao động hết hiệu lực trong thời gian người lao động đang trong thời gian nghỉ dưỡng dài ngày, nghỉ thai sản. Công ty bạn được phép chấm dứt Hợp đồng với người lao động khi thời hạn đã hết. Tuy nhiên, Công ty bạn có trách nhiệm phải thông báo cho người lao động biết theo Điều 36 Bộ luật lao động:

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Trường hợp Công ty bạn không thực hiện việc báo trước cho người lao động biết khi Hợp đồng lao động hết thời hạn, căn cứ Điều 7 Nghị định 95/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

: “1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không thông báo bằng văn bản cho người lao động biết trước ít nhất 15 ngày, trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn.”

về việc báo với Phòng lao động thương binh xã hội.

Khi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động với người lao động thì không bắt buộc phải báo với Phòng, sở lao động thương binh và xã hội. Khi Công ty bạn chấm dứt hợp đồng với người lao động hợp pháp thì theo khoản 2 Điều 47 Bộ luật lao động: trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Công ty bạn có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

Hiện tại, vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về những trường hợp đặc biệt theo quy định tịa khoản 2 này. Tuy nhiên, có thể hiểu những trường hợp đặc biệt có thể xảy ra là những trường hợp bất khả kháng, hoặc do những nguyên nhân khách quan … ảnh hưởng đến việc thanh toán quyền lợi cho mỗi bên nên phải kéo dài thời hạn giải để giải quyết.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động hay quyết định cho về hưu ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Đơn phương chấm chấm dứt hợp đồng lao động?

Trả lời:

Đơn phương chấm dứt hợp đồng là trường hợp chấm dứt hợp đồng trước thời hạn dựa trên ý chí của một bên chủ thể.

 

Câu hỏi: Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

Trả lời:

Người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do

Theo quy định tại khoản 1 điều 35 Bộ luật  lao động năm 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp HĐLĐ nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

-  Ít nhất 45 ngày với HĐLĐ không xác định thời hạn;

-  Ít nhất 30 ngày với HĐLĐ có thời hạn từ 12 - 36 tháng;

-  Ít nhất 03 ngày làm việc với HĐLĐ dưới 12 tháng.

Với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước sẽ thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Theo quy định trên, người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng vì bất cứ lý do riêng nào và chỉ cần đảm bảo về thời gian báo trước cho người sử dụng lao động.

Câu hỏi: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có cần phải báo trước?

Trả lời:

Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 35 có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần báo trước:

- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận, trừ trường hợp khác;

- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng hạn, trừ trường hợp khác;

- Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc vì công việc có ảnh hưởng xấu tới thai nhi;

- Đủ tuổi nghỉ hưu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.