Anh H bên tôi có ký hợp đồng với một công ty Hàn Quốc, sau đó được công ty mẹ bên Hàn Quốc chuyển sang Việt Nam làm việc (23/1/2015-23/5/2105) nhưng công ty ở Việt Nam chỉ thanh toán cho anh ý 1.7 tháng lương, còn nợ lại 2.3 tháng lương của anh ý. Hiện giờ anh ý không được trả hợp đồng nhưng có giấy phép lao động và tài khoản chứng minh công ty Việt Nam thanh toán lương. Cho tôi hỏi liệu trường hợp này nên xử lý thế nào?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: L.P

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê. 

Tư vấn công ty thanh toán lương cho người nước ngoài ? 

Luật sư tư vấn luật lao động gọi số:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ pháp lý

Bộ luật lao động năm 2012

Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động năm 2012

Nội dung phân tích

- Theo quy định của bộ luật lao động năm 2012 quy định:

Điều 94. Hình thức trả lương

1. Người sử dụng lao động có quyền lựa chọn hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán. Hình thức trả lương đã chọn phải được duy trì trong một thời gian nhất định; trường hợp thay đổi hình thức trả lương, thì người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động biết trước ít nhất 10 ngày.

2. Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng. Trường hợp trả qua tài khoản ngân hàng, thì người sử dụng lao động phải thỏa thuận với người lao động về các loại phí liên quan đến việc mở, duy trì tài khoản.

>> Xem thêm:  Năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài là gì ?

Điều 95. Kỳ hạn trả lương

1. Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải được trả gộp một lần.

2. Người lao động hưởng lương tháng được trả lương tháng một lần hoặc nửa tháng một lần.

3. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

Điều 96. Nguyên tắc trả lương

Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

- Theo Nghị định số 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động

Điều 24. Nguyên tắc trả lương

1. Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

>> Xem thêm:  Ủy nhiệm chi là gì ? Quy định pháp luật về ủy nhiệm chi

2. Trường hợp đặc biệt do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động thì không được trả chậm quá 01 tháng. Việc người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động do trả lương chậm được quy định như sau:

a) Nếu thời gian trả lương chậm dưới 15 ngày thì không phải trả thêm;

b) Nếu thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương. Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định trần lãi suất thì được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng thương mại, nơi doanh nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời điểm trả lương.

Theo Thông tư 32/2013/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam thì đối với người lao động Việt Nam, người sử dụng lao động phải trả tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp khác bằng tiền Việt Nam; còn đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, người sử dụng lao động có thể trả các khoản tiền trên bằng ngoại tệ.

Trường hợp của bạn là anh H bên có ký hợp đồng với một công ty Hàn Quốc, sau đó được công ty mẹ bên Hàn Quốc chuyển sang Việt Nam làm việc (23/1/2015-23/5/2105), bạn cần phải cung cấp các văn bản chứng minh việc công ty mẹ bên Hàn Quốc chuyển lao động sang Việt Nam làm việc dưới hình thức nào? theo hợp đồng lao động xác định thời hạn là bao nhiêu lâu? từ đó mới xác định được nghĩa vụ của Công ty bên Việt Nam? Việc công ty tại Việt Nam thanh toán cho anh H số tiền 1.7 tháng lương, còn nợ lại 2.3 tháng lương của anh H là có lý do nào? bạn cần  yêu cầu công ty tại Việt Nam giải thích về lý do này. nên không thể kết luận nghĩa vụ của công ty tại Việt Nam cho việc trả lại khoản 2.3 tháng lương của anh H. Bạn lưu ý, bạn nói rằng hiện giờ  anh H không được trả hợp đồng có nghĩ là như thế nào ạ? phải chăng bạn muốn nói đến việc anh H không được nhận hợp đồng với công ty tại Việt Nam hay anh H không được thanh toán số tiền theo Hợp đồng? bạn cần vui lòng xác định quyền và nghĩa vụ của anh H trong bản Hợp đồng giữa anh H và công ty tại Việt Nam. Ngoài ra, bạn cung cấp thông tin rằng anh H có giấy phép lao động và tài khoản chứng minh công ty Việt Nam thanh toán lương, điều này chứng minh rằng giữa anh H và công ty tại Việt Nam có hợp đồng lao động nhưng không đủ chứng minh nghĩa vụ phải thanh toán số tiền 2.3 tháng lương còn lại, vì tình huống cần đặt ra rằng hợp đồng lao động giữa anh H và công ty tại Việt Nam quy định như thế nào? nghĩa vụ của công ty mẹ tại Hàn Quốc ra sao? và liệu thời gian của 2.3 tháng lương kia có sự thỏa thuận nào trong việc quyền của bên công ty tại Việt Nam và công ty mẹ tại nước ngoài hay không ? như vậy mới kết luận được công ty tại Việt Nam phải thanh toán tiền lương cho H số tiền còn thiếu trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về lao động và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật Lao động.

>> Xem thêm:  Ủy nhiệm chi là gì ? Quy định pháp luật về ủy nhiệm chi