Tuy nhiên, vào một tuần nọ, có 1 thanh niên ăn mặt lịch sự, cứ hằng ngày lên cty với mục đích đòi nợ, nghe phong phanh số tiền lên đến tiền tỷ, nên nhóm lúc đó khá hoang mang vì thế đã tìm hiểu thông tin thì phát hiện có website với nội dung thông báo các công ty do T.N.K và một ông nữa mang chức giám đốc tên M đều là công ty ảo. Sau khi biết vụ việc, tôi và 1 số bạn trong nhóm quyết định nghỉ vào tháng 12/2015 nhưng tới tận bây giờ vẫn không thể đòi lại được. Hiện công ty vẫn hoạt động ở văn phòng cũ nhưng đã đổi tên thành công ty xây dựng TN. Tình hình trả lương: bình thường công ty thường trả lương trễ quá 15 ngày, đôi khi trả vào cuối tháng, nhận sự tính lương sai xót, hiện tổng nợ tôi và cả những bạn khác trong nhóm là hơn 40tr. Bây giờ tôi phải làm sao để có thể đòi được tiền lương trước kia? Mình xin cảm ơn.
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao độngcủa Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn luật lao động trực tiếp qua tổng đài điện thoại: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Căn cứ pháp lý:
Bộ luật lao động số 10/2012/QH13
2. Nội dung phân tích:
Do bạn chưa cung cấp rõ nhóm của bạn và công ty đã ký kết và thỏa thuận những gì trong hợp đồng lao động khi bạn làm việc tại công ty nên chúng tôi xem xét việc bạn nghỉ việc tại công ty là tuân thủ quy định của pháp luật lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động. Khi đó căn cứ tại Điều 47 Bộ luật lao động 2012 thì:
1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.
2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.
3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.
4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.
Như vậy với quy định trên thì dài nhất là 30 ngày công ty phải có trách nhiệm trả đầy đủ tiền lương cho bạn, tuy nhiên đến nay công ty vẫn chưa trả tiền lương còn thiếu cho cả nhóm bạn. Và bạn được biết công ty vẫn hoạt động ở văn phòng cũ nhưng đã đổi tên thành công ty xây dựng TN, điều này có nghĩa là dù công ty có thay đổi tên nhưng vẫn là một pháp nhân. Với tranh chấp này, để có thể đòi lại số tiền lương của mình, bạn có thể giải quyết căn cứ theo Điều 200, 201 của Bộ luật Lao động 2012, cụ thể như sau:
Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
1. Hoà giải viên lao động.
2. Toà án nhân dân.
Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động
1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.
đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.
3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.
Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.
Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.
Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.
Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.
Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.
4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
Theo như bạn cung cấp thì bạn đã quyết định nghỉ việc từ tháng 12/2015, do đó bạn cần lưu ý về thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp này theo Điều 202 Bộ luật lao động 2012:
1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua emailTư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.
Trân trọng./
Bộ phận Tư vấn pháp luật lao động.