Chào công ty Luật Minh Khuê, hiện nay tình trạng doanh nghiệp không trả lương hoặc trả lương không đầy đủ cho người lao động rất phổ biến. Đặc biệt trong tình trạng dịch bệnh diễn biến phức tạp vấn nạn này lại xảy ra với số lượng lớn hơn. Lướt trên các diễn đàn về nhân sự, lao động không khó để bắt gặp những trạng thái phàn nàn về việc chậm lương của công ty hay nặng nề hơn còn là “bóc phốt” công ty quỵt lương. Vậy kính nhờ quý công ty tư vấn giúp tôi giải pháp hiệu quả để người lao động đòi được lương từ doanh nghiệp. Xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2019

- Nghị định 28/2020/NĐ-CP

 

Thực trạng doanh nghiệp không trả lương hoặc trả lương không đầy đủ cho người lao động rất phổ biến. Đặc biệt trong tình trạng dịch bệnh diễn biến phức tạp vấn nạn này lại xảy ra với số lượng lớn hơn. Lướt trên các diễn đàn về nhân sự, lao động không khó để bắt gặp những trạng thái phàn nàn về việc chậm lương của công ty hay nặng nề hơn còn là “bóc phốt” công ty quỵt lương. Điều này xuất phát từ nhiều lý do, dễ thấy nhất không trả lương hoặc giữ lương nhằm mục đích giữ chân lao động làn việc lâu dài, do kinh doanh khó khăn… Nhưng dù vì lý do gì thì việc không trả lương và trả lương không đầy đủ đúng hạn cho lao động là hành vi trái pháp luật.

>> Xem thêm:  Quy định về thời gian thử việc đối với người lao động ?

Thẳng thắn nhìn nhận người lao động bán sức lao động của mình cũng chỉ để mong nhận được tiền lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động với công ty. Đây là quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của người lao động đã được Hiến pháp năm 2013 thừa nhận tại Điều 32. Quyền này được cụ thể hóa ở Điều 5 của Bộ luật lao động năm 2019. Theo đó, Người lao động có quyền hưởng lương phù hợp với trình độ, kỹ năng nghề trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng lao động. Vì vậy, Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng hạn cho người lao động theo quy định của pháp luật.

Mặc dù vấn đề trả lương đã được luật quy định rất nghiêm, tuy nhiên thực tế hiện nay rất nhiều công ty không nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ này. Điển hình ở các hành vi như không trả lương cho những ngày người lao động thử việc, trì hoãn và không trả lương khi chấm dứt hợp đồng lao động, không trả lương làm thêm giờ…vv.

Phải làm gì khi không được trả lương đầy đủ và đúng hạn là câu hỏi mà bất cứ người lao động nào cũng muốn có lời giải đáp cùng biện pháp xử lý vấn đề hiệu quả nhất.

Bài viết dưới đây sẽ tập trung đưa ra giải pháp giúp người lao động bảo vệ quyền lợi của mình khi người sử dụng lao động không thực hiện nghĩa vụ trả lương cho người lao động theo hợp đồng lao động.

2. Quyền nhận lương trong bất kỳ trường hợp nào của người lao động

Bộ luật Lao động hiện hành bảo vệ tiền lương của người lao động trong bất kỳ trường hợp nào. Điều này có nghĩa là dù người lao động chấm dứt hợp đồng trái luật, bị người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động hay thậm chí là bị sa thải nhưng quyền được nhận lương trong những ngày đã làm việc là bất khả xâm phạm. Cụ thể như sau:

2.1. Người sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc

Theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật lao động năm 2019, tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó. Lưu ý là trong quá trình thử việc, người lao động hoặc người sử dụng lao động có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc giữa các bên và người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ trả tiền công cho người lao động đối với những ngày mà người lao động đã làm việc trước đó. Do vậy, nếu trong thời gian thử việc, người sử dụng lao động không chi trả lương cho người lao động là trái với quy định của pháp luật Việt Nam.

2.2. Người lao động được nhận lương trong thời gian người lao động làm việc theo HĐLĐ đã ký kết

Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ chi trả đủ tiền lương và các khoản phụ cấp khác (nếu có) cho người lao động theo đúng thời hạn mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động hoặc phù hợp với thời hạn do người sử dụng lao động quy định nhưng không trái pháp luật. Hiện nay, theo quy định tại Điều 94 của Bộ luật lao động năm 2019 thì người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Bên cạnh đó, cũng tại Bộ luật này quy định tại Điều 97 thì “trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương”

>> Xem thêm:  Quy định về thời gian làm việc thực tế của người lao động ?

2.3. Người sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động cho những ngày đã làm việc trước khi chấm dứt HĐLĐ

Người sử dụng lao động có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của người lao động như là tiền lương, tiền thưởng, ngày nghỉ hằng năm chưa nghỉ, tiền trợ cấp thôi việc (nếu có) trong thời hạn 14 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ trả lương

3.1. Vi phạm quy định về trả lương trong thời gian thử việc

Trong trường hợp người sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó thì người sử dụng lao động có thể bị xử phạt từ 2 đến 5 triệu đồng. Bên cạnh bị xử phạt tiền, người sử dụng lao động còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc phải trả đủ 100% tiền lương cho người lao động trong thời gian thử việc. (Điều 9 Nghị định 28/2020/NĐ-CP)

3.2. Vi phạm quy định về tiền lương

Người sử dụng lao động có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 5 triệu đến 50 triệu đồng tùy vào mức độ vi phạm khi trả lương không đúng hạn; không trả hoặc trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước; trả lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm cho người lao động thấp hơn mức quy định; khấu trừ tiền lương của người lao động trái với quy định; trả không đủ tiền lương ngừng việc. (Khoản 2 Điều 16 Nghị định 28/2020/NĐ-CP)

Ngoài ra, người sử dụng lao động còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả như buộc trả đủ tiền lương cho người lao động theo quy định và buộc trả khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả cho người lao động tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương

4. Người lao động cần làm gì để bảo vệ quyền nhận lương?

Để bảo vệ quyền lợi cho mình khi rơi vào các trường hợp nói trên, người lao động có thể thực hiện các bước sau:

>> Xem thêm:  Thời hạn báo giảm bảo hiểm xã hội cho người lao động nghỉ việc ?

- Gửi khiếu nại đến Thanh tra lao động của co quan Nhà nước có thẩm quyên để đề nghị bảo vệ quyền lợi cho mình;

- Người lao động cũng có thể đề nghị Hòa viên lao động thực hiện hòa giải;

- Trường hợp người sử dụng lao động vẫn không thực hiện trả lương (hòa giải không thành), người lao động có thể kiện người sử dụng lao động ra Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

4.1. Khiếu nại đến Chánh thanh tra lao động

Người lao động thực hiện khiếu nại lần 1 đến người sử dụng lao động trong thời hạn 180 ngày; khiếu nại lần 2 tới Thanh tra Sở LĐTBXH trong thời hạn 30 ngày. Người lao động nên thực hiện quyền khiếu nại bằng văn bản và có kèm theo các hồ sơ tại liệu liên quan đến vụ việc.

4.2. Yêu cầu hòa giải viên lao động

Người lao động thực hiện quyền đề nghị hòa giải viên lao động để giải quyết tranh chấp lao động trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi của người sử dụng mà cho rằng quyền, lợi hích hợp pháp của mình bị vi phạm. Người lao động thực hiện quyền yêu cầu hòa giải tranh chấp lao động bằng văn bản và kèm theo các hồ sơ tài liệu có liên quan. (Điều 190 Bộ luật lao động năm 2019)

4.3. Khởi kiện ra tòa án

Người lao động thực hiện quyền khởi kiện trong thời hạn 1 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi của người sử dụng lao động mà cho rằng quyền, lợi hích hợp pháp của mình bị vi phạm. Việc khởi kiện tranh chấp lao động tại tòa án được thực hiện bằng văn bản và theo quy trình tố tụng dân sự.

Được nhận lương đầy đủ và đúng hạn là quyền lợi chính đáng của người lao động. Vì bất cứ lý do gì người sử dụng lao động không đảm bảo quyền lợi chính đáng này đều sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. Mà trước hết chính là cần sự lên tiếng của chính người lao động trước những hành vi sai phạm đó. Bài viết trên đây Luật Minh Khuê đã đưa ra giải pháp hiệu quả nhất cho vấn đề “Không được trả lương đủ và đúng hạn, người lao động phải làm gì”. Hy vọng quý khách hàng không may gặp phải tình trạng này có thể áp dụng và đòi được tiền lương của mình từ người sử dụng lao động. Nếu có bất kỳ khó khăn nào trong quá trình thực hiện hãy liên hệ với chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật lao động với Hotline 1900.6162 để được hỗ trợ!

>> Xem thêm:  Cách tính lương cho người lao động khi nghỉ ốm ? Hồ sơ hưởng chế độ ốm đau

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê