1. Giải đáp về vấn đề hòa giải đối với tranh chấp đất đai

Chào Luật Minh Khuê, giữa tôi và ông hàng xóm có tranh chấp về ranh giới của hai nhà. Giờ tôi không muốn hòa giải mà kiện ra tòa án luôn có được không ?
Xin luật sư tư vấn giúp. Tôi cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và trả lời cụ thể như sau:

1.1. Tranh chấp đất đai:

TheoLuật đất đai năm 2013 quy định:

"Điều 3. Giải thích từ ngữ

24. Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai."

Từ quy định này, cho thấy tranh chấp đất đai gồm 2 yếu tố:

- Đối tượng tranh chấp: Quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất.

- Chủ thể tranh chấp, phạm vi tranh chấp: Hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.

Ví dụ: Ông A và ông B có hai thửa đất liền kề nhau. Trong quá trình đo đạc đất đai thì ông A phát hiện ra Giấy chứng nhận của ông B có một diện tích đất chồng lấn sang Giấy chứng nhận của mình.

Ta thấy giữa ông A và ông B đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất chồng lấn thuộc về ai, đây được gọi là tranh chấp đất đai.

1.2. Những tranh chấp đất đai phải qua hòa giải tại cấp xã.

"Điều 3. Về chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ...

2. Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án."

1.3. Trình tự giải quyết tranh chấp đất đai

"Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Như vậy, tranh chấp ranh giới đất giữa gia đình bạn và hàng xóm là tranh chấp đất đai và theo như phân tích ở trên, hai bên cần làm thủ tục hòa giải tại UBND xã nơi có đất sau đó mới tiến hành khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

2. Loại tranh chấp nào phải qua hòa giải tại cấp xã ?

Thực tế, việc tranh chấp liên quan đến đất đai xảy ra dưới rất nhiều kiểu, dạng và trong nhiều quan hệ pháp luật khác nhau. Hiểu thế nào là tranh chấp đất đai để khoanh vùng những loại tranh chấp phải qua thủ tục hòa giải tại cấp xã vẫn chưa có sự thống nhất. Từ đó, dẫn đến tình trạng“đánh nhầm hơn bỏ sót”- một trong những nguyên nhân làm ách tắc trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay.

Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Theo quy định trên tranh chấp đất đai chưa rõ ràng, khó xác định. Hiện nay, chỉ tranh chấp về việc xem ai là người có quyền sử dụng đất (là chủ thửa đất) thì mới phải bắt buộc hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất.

Theo khoản 1 Điều 202 Luật Đất đai 2013 khi xảy ra tranh chấp, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

- Nếu các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất để yêu cầu hòa giải.

- Khi hòa giải không thành thì được giải quyết như sau:

1 - Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết

2 - Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 thì chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp sau: theo thủ tục hành chính hoặc theo thủ tục tố tụng dân sự

Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP quy định: Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại UBDN cấp xã nơi có đất tranh chấp thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện.

Như vậy, mọi tranh chấp đất đai đều phải bắt buộc hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp, nếu không hòa giải tại UBND cấp xã thì sẽ không được quyền khởi kiện tại tòa án hoặc yêu cầu Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện giải quyết.

Tranh chấp liên quan đến đất đai không phải hòa giải

Theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP thì đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất sau thì thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp không phải là điều khởi kiện vụ án (không cần hòa giải tại UBND cấp xã). Cụ thể:

- Tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất;

- Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất;

- Tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất…

Khi xảy ra tranh chấp đất liên quan đến đất đai như là giao dịch (mua bán nhà đất), thừa kế quyền sử dụng đất…thì sẽ không giải quyết theo quy định của Luật Đất đai (không phải hòa giải tại UBND cấp xã) mà các bên sẽ tự hòa giải, thương lượng hoặc khởi kiện tại Toàn án.

Như vậy, tất cả tranh chấp đất đai phải hòa giải tại UBND cấp xã như: Tranh chấp về ranh giới thửa đất, tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất…

>> Xem thêm:  Đơn giá bồi thường thiệt hại cây trồng, vật nuôi, tài sản khi nhà nước thu hồi đất là bao nhiêu tiền ?

3. Trổ cửa ra lối đi chung có được không ?

Xin chào luật sư luật Minh Khuê!!! Nhờ luật sư tư vấn giúp em ạ. Hiện tại nhà em đang ở muốn trổ cửa sau ra hẻm đường là lối đi chung nhưng bị nhà hàng xóm sau nhà ngăn cản không cho mở cửa Luật sư cho em hỏi việc nhà em mở cửa thoát hiểm ra lối đi chung có vi phạm pháp luật không ạ? Và cần xin thủ tục cấp phép tại cơ quan nào ở phường hay quận ạ ?
Mong nhận được tư vấn từ luật sư ạ. Xin cám ơn.

Luật Minh Khuê tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 175 và Điều 254 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"Điều 175. Ranh giới giữa các bất động sản

1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.

2. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

...

Điều 254. Quyền về lối đi qua

1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù."

Như vậy, có thể thấy rằng trong ranh giới đất nhà bạn, bạn hoàn toàn có quyền sử dụng. Đối với việc bạn có nhu cầu mở cửa đi ra lối đi chung chỉ được thực hiện khi công trình của bạn bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng.

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn có nói rằng gia đình bạn muốn mở cửa sau như vậy chúng tôi có thể hiểu gia đình bạn đã có 1 lối đi, 1 cửa chính rồi do đó việc gia đình bạn mở cửa sau sẽ khá là khó.

>> Tham khảo thêm: Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai;

>> Xem thêm:  Chỉnh sửa thông tin trên sổ đỏ như thế nào ? Cần làm gì khi Nhà nước ghi sai thông tin trên sổ đỏ ?

4. Tư vấn pháp luật trong tranh chấp quyền sử dụng đất ?

Chào luật sư, tôi không hiểu nhiều về luật tranh chấp đất đai nên có thắc mắc mong luật sư tư vấn giúp. Ông bà tôi có 1,5 ha đất nông nghiệp, nay không còn sức khỏe nên muốn bán đất. Nhưng trong nhà có một Bác là trưởng nam muốn bán và lấy hết trong khi gia đình bà tôi thi có tất cả 8 người. Bà tôi cũng có tuổi nên cứ nghe Bác đó, kiểu trọng nam khinh nữ.
Tôi muốn hỏi có thể làm đơn kiện để giành quyền lợi cho những người còn lại không? Và nếu đi kiện thì sẽ trình tự như thế nào?
Cảm ơn!

Trả lời:

Điều 194 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 194. Quyền định đoạt của chủ sở hữu

Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.

Như vậy, nếu mảnh đất này có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông bà bạn thì ông bà bạn là chủ sở hữu 1,5 ha đất này nên ông bà bạn có toàn quyền định đoạt đối với tài sản này như bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy. Do đó, việc ông bà bạn nghe và thực hiện theo lời của bác bạn là ý chí của ông bà bạn nên không ai có quyền ngăn cản. Và trường hợp, nếu như ông bà bạn hoàn toàn minh mẫn, không bị lừa dối hay đe dọa, cưỡng ép thì giao dịch chuyển nhượng 1,5ha đất và tặng cho hết số tiền bán được cho bác cả theo ý bác cả bạn là không trái với quy định pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp về lối đi chung/đường đi nội bộ trong gia đình theo quy định pháp luật ?

5. Sống chung mà không kết hôn xử ly tranh chấp đất thế nào ?

Sau 13 năm chung sống, người đàn ông muốn phủ nhận sạch trơn công sức của người vợ lẽ đối với khối bất động sản mà chỉ mỗi mình ông đứng tên. Khi đến với nhau năm 1988, ông H. và bà B. chỉ có hai bàn tay trắng. Ông là thợ sửa đồng hồ, bà là thợ may, ở nhờ nhà của người quen. Bà B. cũng biết ông H. đã có hai đời vợ và sáu người con. Nhưng vào thời điểm trên thì ông chỉ sống một mình, ông H. nói vậy và bà B. cũng tin như thế.

Không đăng ký kết hôn

Bà B. cho biết ông H. có cưới hỏi bà đàng hoàng. Nhưng do cuộc sống chật vật nên hai người không thể về quê để đăng ký kết hôn. Do không có giấy chứng nhận kết hôn nên khi khai sinh cho đứa con duy nhất của hai người, ông H. phải làm giấy nhận con. Nhờ bạn bè giúp đỡ, ông H. chuyển từ nghề sửa đồng hồ sang buôn bán đồng hồ cũ rồi cả hai chuyển sang làm vỏ đồng hồ vàng và giàu lên từ đó. Khi có tiền, cả hai quay ra làm môi giới đất đai, mua đất nông nghiệp rồi bán lại kiếm lời.

Khi hai người thuê nhà mở điểm kinh doanh, bà B. ở văn phòng tiếp khách, làm giấy tờ, còn ông H. đi ra ngoài giao dịch. Đến năm 2001, khi chia tay nhau thì hai người có chung rất nhiều căn nhà và lô đất. Có căn giá trị lên đến vài tỷ đồng. Bấy giờ, ông H. trở mặt, phủ nhận sạch trơn công sức đóng góp của bà B. trong những nhà, đất trên mà cụ thể là không cho mẹ con bà hưởng thứ gì. Cả căn nhà mẹ con bà B. đang ở cũng bị ông dằn mặt “chỉ cho ở nhờ, khi cần thiết sẽ lấy lại để bán”.

Ức quá, bà B. đã kiện ông H. ra tòa với hai yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và được chia tài sản chung gồm chín căn nhà với tổng giá trị hơn 18 tỷ đồng. Tuy nhiên, điều bà không ngờ đến là toàn bộ tài sản trên đều đứng tên ông H. (nhiều căn đã có “giấy hồng”). Đau hơn nữa, ông H. vẫn chưa xé hôn thú với người vợ đầu tiên.

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Tài sản riêng hay chung?

Theo bà B., khối nhà, đất khổng lồ trên cùng được tạo lập trong thời gian sống chung nên là tài sản chung của hai người, việc ông H. một mình đứng tên không đồng nghĩa đó là tài sản riêng của ông. Trong giấy nhận con, ông H. cũng gọi bà B. là vợ. Chính bà là người cùng ông H. đi ngồi sui, cưới vợ cho con trai riêng của ông.

Ông H. cũng thừa nhận có cưới hỏi, có sống chung với bà B nhưng ông không coi bà B. là vợ vì ông đã có vợ hợp pháp trước đó và chưa ly hôn. Theo những quy định của pháp luật mà ông nắm được, những tài sản trên là tài sản chung của ông và người vợ trước chứ không phải là bà B. Mặc dù những người hàng xóm, người thân và một số chủ nhà, đất cũ đều công nhận là khi bán nhà, họ đã thực hiện giao dịch với cả ông H. và bà B. nhưng hồ sơ nhiều căn nhà không thể hiện có sự tham gia mua bán của bà B. Như vậy, khi không phải là vợ ông H. thì bà B. không có quyền đòi chia tài sản như những trường hợp ly hôn khác. Bà B. chỉ được chia phần nhỏ tương xứng với công sức đóng góp để tạo lập khối tài sản trên.

Vụ án kéo dài đã tám năm ròng và hiện vẫn chưa kết thúc. Bởi lẽ các tòa án phải ủy thác điều tra, chờ đợi kết quả xác minh và định giá khối tài sản ở nhiều nơi mà bà B. đã kê khai và yêu cầu chia.

Theo các bạn, khối tài sản trên là tài sản riêng của bị đơn hay tài sản chung của nguyên đơn và bị đơn? Bà B. hay ông H. sẽ thắng kiện? Chúng tôi ghi nhận được nhiều ý kiến phân tích pháp lý khác nhau.

Luật sư Nguyễn Đình Hùng: Nguyên đơn vẫn có thể thắng kiện

Thực sự thì giữa ông H. với bà B. đã có quan hệ hôn nhân bất hợp pháp. Ông H. không đủ điều kiện để kết hôn với bà B. (do ông H. có vợ hợp pháp trước đó và chưa ly hôn). Do đó, bà B. không thể đòi phân chia tài sản chung sau khi ly hôn mà chỉ có thể đòi phân chia tài sản phát sinh trong thời gian hai người sống chung. Dù tài sản tranh chấp chỉ có ông H. đứng tên nhưng bà B. vẫn có thể thắng kiện với điều kiện bà chứng minh được mình có công sức tạo dựng. Đương nhiên, bà B. buộc phải có chứng cứ và thông qua các nhân chứng cụ thể. Những người đó có thể chứng minh việc mua bán tài sản có sự tham gia của cả ông H. và bà B.

Luật sư Phạm Quốc Hưng: Ai muốn giành phần phải chứng minh

Khi ông H. vẫn còn hôn thú với người vợ trước đó thì cuộc hôn nhân của ông với bà B. là bất hợp pháp và như vậy thì cả hai không phải là vợ chồng. Do vậy, số tài sản đang tranh chấp có thể là số tài sản có được do hai người cùng nhau hợp tác làm ăn. Người nào nói đó là phần tài sản của mình đều phải chứng minh. Có hai trường hợp cần được đặt ra: Đối với số tài sản chỉ mỗi ông H. đứng tên chủ sở hữu, nếu bà B. cho rằng mình có phần đóng góp thì bà phải chứng minh. Đối với phần tài sản chưa được cấp giấy chủ quyền hợp pháp, cả ông H. và bà B. đều phải đưa ra chứng cứ để chứng minh phần tài sản đó là của mình.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh KHuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Pháp luật hiện hành quy định về đặt cọc mua bán nhà ? Tư vấn mua bán nhà chung cư ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Hòa giải trong tranh chấp đất là gì?

Trả lời:

Hoà giải là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác. Hoà giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự.

“Hoà giải tranh chấp đất đai” là một thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản pháp Luật Đất đai. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại không được giải thích cụ thể trong Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Căn cứ vào quan niệm chung về hoà giải, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về hoà giải tranh chấp đất đai như sau: “Hoà giải tranh chấp đất đai là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp trong sử dụng đất giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác”

Câu hỏi: Các hạn chế của hoà giải tranh chấp đất đai?

Trả lời:

1. Khi không có những biện pháp bảo vệ như ở toà án, bên mạnh có thể ép bên yếu làm theo các yêu cầu của họ. 2. Khi hoà giải quá tập trung vào lợi ích cá nhân của các bên liên quan có thể bỏ qua các lợi ích chung của cộng đồng. 3. Dưới sức ép để giải quyết tranh chấp một cách êm thấm và nhanh chóng, những hành động sai trái có thể không được xử lý đúng mức. 4. Hoà giải có thể áp đặt một số hình thức phân biệt đối xử (về giới, dân tộc, đẳng cấp v.v.) theo luật tục địa phương đặt ra bởi các già làng, trưởng bản. 5. Hoà giải không đảm bào sẽ đi đến kết quả, có nguy cơ tốn thời gian và có thể còn làm tăng mức độ nghiêm trọng của tranh chấp. 6. Trong trường hợp một trong các bên liên quan không thuộc cùng một cộng đồng, không hiểu và tuân thủ những quy tắc địa phương tại nơi xảy ra tranh chấp thì hoà giải có thể không mang lại kết quả gì.

Câu hỏi: Tổ hòa giải cơ sở được UBND cấp xã thành lập tại các thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố?

Trả lời:

Tổ hòa giải cơ sở được UBND cấp xã thành lập tại các thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố. Thành viên của tổ hoà giải là những người cao tuổi, có uy tín, hiểu biết pháp luật và kinh nghiệm sống được lựa chọn trong cộng đồng dân cư. Thông thường họ là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, cán bộ Chi hội Phụ nữ, hội viên Chi hội Người cao tuổi, cán bộ, công chức nhà nước về hưu. Để bảo đảm việc lựa chọn có chất lượng, chính xác đội ngũ các hoà giải viên cơ sở, pháp luật quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã để thành lập tổ hòa giải cơ sở. Quy trình tuyển chọn, giới thiệu và bầu tổ viên tổ hoà giải được thực hiện theo các bước sau: (i) Bước 1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên lựa chọn, giới thiệu các ứng cử viên của tổ hoà giải cơ sở để nhân dân thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố bầu; (ii) Bước 2. Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, Tổ trưởng tổ dân phố … tổ chức và chủ trì cuộc họp nhân dân, cuộc họp chủ hộ gia đình hoặc tổ chức việc phát phiếu lấy ý kiến chủ hộ để bầu tổ viên Tổ hòa giải cơ sở; (iii) Bước 3: Biên bản bầu tổ viên Tổ hòa giải cơ sở được gửi đến Chủ tịch UBND cấp xã để xem xét và ra quyết định công nhận.