Hai người chi tay nhau, chị tôi về sinh sống cùng bố mẹ đẻ, được 4 tháng sau chị tôi sinh môt bé gái và đặt tên là lê thị bích thùy, do không có điều kiện nên khi cháu 6 tuổi chi tôi mới đề nghị trạm y tế xã nơi chi tôi sinh cháu thùy cấp giấy chứng sinh để làm giấy khai sinh. Và cháu thùy được ubnd xã an thái cấp giấy khai sinh và được đến trường như bao trẻ em khác.
Năm 2009 chị tôi bị bệnh trầm cảm sau sinh và tự tử chết, tôi là cậu của cháu phải cưu mang nuôi dạy cháu; khi làm thủ tục phân chia tài sản thừa kế của chị tôi để lại thì anh đàm quang ninh có xuất trình 1 giấy khai sinh mà anh ninh tự ý đi làm khi chị tôi hạ sinh cháu thùy với tên là đàm thị huệ.
Vậy tư vấn cho tôi hỏi việc anh ninh tự ý làm giấy khai sinh ngoài thời kỳ hôn nhân như nhân mà không có sự đồng ý của chị tôi là đúng hay sai, (đến thời điểm này anh ninh vẫn không nhận nuôi cháu thùy và khẳng định không phải là con của mình, đã có kết quả giám định adn). Việc phân chi tài sản thừa kế tôi vẫn chấp thuận chia cho con chung giữa chị tôi và anh ninh (tên cháu là đàm quang phú) nhưng thủ tục gặp rắc rối khi 1 trẻ mà có 2 giấy khai sinh. Trường hợp này giải quyết như thế nào xin tư vấn giúp đỡ ?
Cảm ơn luật sư!
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân làm giấy khai sinh, gọi: 1900.6162
Luật sư trả lời:
Theo thông tin khách hàng cung cấp, khách hàng không cung cấp thời gian bố của bé làm giấy khai sinh cho con là vào thời điểm nào. Nhưng năm 2009 chị khách hàng chất, thì đã có giấy khai sinh của cháu anh, vì vậy có thể đoán bố bé đi đăng ký khai sinh cho con vào khoảng thời gian từ năm 2002 dến năm 2009. Căn cứ theo quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP có quy định:
Điều 14. Thời hạn đi khai sinh và trách nhiệm khai sinh
Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.
Như vậy theo quy định trách nhiệm đi khai sinh cho con thuộc về cha, mẹ của bé. Như vậy việc cha bé có toàn quyền đăng ký khai sinh cho con mà không cần phải có người mẹ biết nếu cha bé cung cấp đủ những giấy tờ tài liệu theo hướng dẫn tại Điều 15 Nghị định 158/2005/NĐ-CP
Điều 15. Thủ tục đăng ký khai sinh
1. Người đi đăng ký khai sinh phải nộp giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn)
Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.
Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.
2. Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.
3. Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê