- Hóa đơn GTGT trả hàng ủy thác thì dòng thuế suất công ty nhập khẩu ủy thác ghi "nhập khẩu" (chưa bên nào kê khai thuế)

- Hóa đơn dịch vụ ủy thác thì công ty nhận ủy thác liệt kê hết những khoản trả hộ cho công ty tôi (chi phí vận chuyển, lưu kho bãi, ...) trong đó có những chi phí chịu thuế và không chịu thuế, công ty nhập khẩu ủy thác đều liệt kê vào và xuất hóa đơn GTGT 10% cho công ty tôi.

Vậy tôi xin hỏi trường hợp này công ty nhận ủy thác xuất hóa đơn như vậy có đúng không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật thuế của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật thuế gọi: 1900.6162

Trả lời: 

Chào chị, cảm ơn chị đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, về vấn đề của chị xin được tư vấn cho chị như sau:

1. Cơ sở pháp lý

-Thông tư 39/2014/TT-BTC Hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

-Công văn 1332/TCT-NV2 của Tổng cục Thuế về việc thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá uỷ thác XNK

2. Về hóa đơn GTGT trả hàng nhập khẩu ủy thác

Khoản 2.2 Phụ lục 4 thông tư 39/2014/TT-BTC có quy định về hóa đơn xuất trả hàng ủy thác như sau:

" 2.2. Tổ chức xuất nhập khẩu nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nhận nhập khẩu hàng hoá uỷ thác cho các cơ sở khác, khi trả hàng cơ sở nhận uỷ thác lập chứng từ như sau:
Cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác khi xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác, nếu đã nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu, cơ sở lập hoá đơn GTGT để cơ sở đi uỷ thác nhập khẩu làm căn cứ kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá uỷ thác nhập khẩu. Trường hợp cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác chưa nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu, khi xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác, cơ sở lập phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm theo lệnh điều động nội bộ theo quy định làm chứng từ lưu thông hàng hoá trên thị trường. Sau khi đã nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu cho hàng hoá nhập khẩu uỷ thác, cơ sở mới lập hoá đơn theo quy định trên.
          Hoá đơn GTGT xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác ghi:
          (a) Giá bán chưa có thuế GTGT bao gồm: giá trị hàng hoá thực tế nhập khẩu theo giá CIF, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và các khoản phải nộp theo chế độ quy định ở khâu nhập khẩu (nếu có).
          (b) Thuế suất thuế GTGT và  tiền thuế GTGT ghi theo số thuế đã nộp ở khâu nhập khẩu.
          (c) Tổng cộng tiền thanh toán (= a + b)
Cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác lập hoá đơn GTGT riêng để thanh toán tiền hoa hồng uỷ thác nhập khẩu."

Khoản 1 Điều 4 Thông tư 39/2014/TT-BTC quy định như sau: "Đối với hóa đơn giá trị gia tăng, ngoài dòng đơn giá là giá chưa có thuế giá trị gia tăng, phải có dòng thuế suất thuế giá trị gia tăng, tiền thuế giá trị gia tăng, tổng số tiền phải thanh toán ghi bằng số và bằng chữ."

Thuế suất thuế GTGT theo quy định tại Điều 9, 10, 11 Thông tư 219/2013/TT-BTC thì chỉ có 3 loại thuế suất là 0%, 5%, 10% hoặc đối tượng không chịu thuế thì không ghi và gạch chéo (/) chứ không có thuế suất là "nhập khẩu". Vì vậy, việc viết chữ "nhập khẩu" vào ô thuế suất là sai và phải thực hiện theo quy định tại Điều 20 Thông tư 39/2014/TT-BTC như sau: "Trường hợp hóa đơn đã lập và giao cho người mua nhưng chưa giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc hóa đơn đã lập và giao cho người mua, người người bán và người mua chưa kê khai thuế nếu phát hiện sai phải hủy bỏ, người bán và người mua lập biên bản thu hồi các liên của số hóa đơn đã lập sai. Biên bản thu hồi hóa đơn phải thể hiện được lý do thu hồi hóa đơn. Người bán gạch chéo các liên, lưu giữ số hóa đơn lập sai và lập lại hóa đơn mới theo quy định."

Như vậy, trong trường hợp này, 2 bên tiến hành lập biên bản thu hồi hóa đơn, bên bán lập hóa đơn mới theo quy định.

Lưu ý: Dòng thuế suất GTGT và tiền thuế GTGT là số tiền thuế GTGT do cơ sở nhập khẩu ủy thác đã nộp ở khâu nhập khẩu.

3. Kê khai thuế GTGT đối với hàng hóa ủy thác nhập khẩu

Về việc kê khai thuế GTGT đối với hàng hóa ủy thác nhập khẩu được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Mục I Công văn 1332/TCT-NV2 như sau:

"2. Đối với hàng hoá uỷ thác nhập khẩu:

a) Bên uỷ thác nhập khẩu giao quyền nhập khẩu hàng hoá cho bên nhận uỷ thác trên cơ sở hợp đồng uỷ thác nhập khẩu hàng hoá.

b) Bên nhận uỷ thác nhập thực hiện dịch vụ nhận uỷ thác nhập khẩu hàng hoá, thay mặt bên uỷ thác thực hiện kê khai nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu và lưu giữ các chứng từ liên quan đến lô hàng nhập khẩu như:

- Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu.

- Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá ký với nước ngoài.

- Hoá đơn thương mại (Invoice) do nước ngoài xuất.

- Tờ khai hải quan hàng nhập khẩu.

- Biên lai thuế GTGT hàng nhập khẩu.

c) Thủ tục kê khai thuế GTGT:

Khi trả hàng uỷ thác nhập khẩu, bên nhận uỷ thác phải lập hoá đơn GTGT: Căn cứ vào hoá đơn nhập khẩu, tờ khai hải quan và biên lai thu thuế GTGT hàng nhập, bên nhận uỷ thác xuất hoá đơn GTGT ghi theo giá thực nhập trong hoá đơn thương mại, riêng thuế nhập khẩu và thuế GTGT theo số phải nộp (số thông báo thuế của cơ quan hải quan). Hoá đơn này làm cơ sở tính thuế đầu ra đối với bên nhận uỷ thác nhập khẩu và là thuế đầu vào của bên uỷ thác.

Trường hợp nhập uỷ thác nhập khẩu cho nhiều đơn vị uỷ thác thì hoá đơn GTGT lập cho từng đơn vị uỷ thác phải ghi đúng số thuế nhập khẩu thuế GTGT theo loại hàng hoá cho từng đơn vị uỷ thác. Trường hợp hàng nhập khẩu giao ngay tại cửa khẩu thì bên nhận uỷ thác phải xuất hoá đơn cho bên uỷ thác, nếu có sai lệch cần điều chỉnh thì khi quyết toán hợp đồng thực hiện việc xuất hoá đơn để điều chỉnh. Việc xuất hoá đơn (khi giao hàng tại cảng hoặc xuất hoá đơn bổ sung điều chỉnh) trong tháng nào thì được khai thuế GTGT đầu ra của bên nhận uỷ thác và kê khai thuế GTGT đầu vào của bên uỷ thác trong tháng đó."

4. Về hóa đơn GTGT dịch vụ ủy thác

Mục II Công văn 1332/TCT-NV2 có quy định: 

"Dịch vụ uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu là đối tượng chịu thuế GTGT. Thuế GTGT được xác định trên giá dịch vụ uỷ thác xuất, nhập (hoa hồng uỷ thác) với thuế suất thuế GTGT 10%. Đối với dịch vụ uỷ thác xuất khẩu bên nhận uỷ thác phải xuất hoá đơn GTGT đối với hoa hồng uỷ thác xuất khẩu đối với dịch vụ uỷ thác nhập khẩu, ngoài việc xuất hoá đơn GTGT cho hàng hoá nhập khẩu, bên nhận uỷ thác còn phải xuất hoá đơn GTGT đối với hoa hồng dịch vụ uỷ thác nhập khẩu cho đơn vị uỷ thác.

Giá tính thuế GTGT của dịch vụ uỷ thác xuất nhập khẩu là toàn bộ tiền hoa hồng uỷ thác và các khoản chi hộ (nếu có). Các chứng từ chi hộ nếu có hoá đơn thuế GTGT thì bên nhận uỷ thác được xác định là thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Trường hợp các chứng từ chi hộ có ghi tên, địa chỉ, mã số thuế của bên uỷ thác, bên nhận uỷ thác chi hộ và chuyển chứng từ gốc cho bên uỷ thác thì không phải tính vào doanh thu hoa hồng của bên nhận uỷ thác.

Giá tính thuế đối với hoa hồng của dịch vụ uỷ thác xuất nhập khẩu là giá chưa có thuế GTGT. Trường hợp hợp đồng quy định theo giá dịch vụ có thuế GTGT thì phải quy ngược để xác định giá chưa có thuế theo công thức:

Giá chưa có thuế GTGT


=

Hoa hồng uỷ thác và các khoản chi hộ (nếu có)

1 + thuế suất (10%)

Như vậy, trong trường hợp này, các khoản chi hộ cho công ty chị dù có phải là đối tượng chịu thuế hay không thì cũng đều được đưa vào giá tính thuế GTGT của dịch vụ ủy thác nhập khẩu và tính với thuế suất là 10%. Do đó, công ty nhập khẩu ủy thác xuất hóa đơn cho chị như vậy là đã hợp lý rồi.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

5. Nguyên tắc tạo hóa đơn

Điều 5 Thông tư 39/2014/TT-BTC quy định:

Tạo hóa đơn là hoạt động làm ra mẫu hóa đơn để sử dụng cho mục đích bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của tổ chức kinh doanh thể hiện bằng các hình thức hóa đơn hướng dẫn tại khoản 3 Điều 3 Thông tư này.

Tổ chức có thể đồng thời tạo nhiều hình thức hóa đơn khác nhau (hóa đơn tự in, hóa đơn đặt in, hóa đơn điện tử) theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP , Nghị định số 04/2014/NĐ-CP và Thông tư này.

- Tổ chức, doanh nghiệp mới thành lập hoặc đang hoạt động được tạo hóa đơn tự in nếu thuộc các trường hợp hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 6 Thông tư này.

- Tổ chức kinh doanh được tạo hóa đơn tự in nếu đáp ứng điều kiện hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 6 Thông tư này.

- Tổ chức kinh doanh thuộc đối tượng nêu tại điểm a, điểm b khoản này nhưng không tự in hóa đơn thì được tạo hóa đơn đặt in theo hướng dẫn tại Điều 8 Thông tư này.

- Tổ chức nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế không thuộc đối tượng nêu tại điểm a, điểm b khoản này và không thuộc đối tượng mua hóa đơn của cơ quan thuế thì được tạo hóa đơn đặt in theo hướng dẫn tại Điều 8 Thông tư này.

- Tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh (bao gồm cả hợp tác xã, nhà thầu nước ngoài, ban quản lý dự án); hộ, cá nhân kinh doanh; tổ chức và doanh nghiệp khác không thuộc trường hợp được tự in, đặt in hóa đơn mua hóa đơn đặt in của cơ quan thuế theo hướng dẫn tại Điều 11 Thông tư này.

- Các đơn vị sự nghiệp công lập có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật đáp ứng đủ điều kiện tự in hướng dẫn tại khoản 1 Điều 6 nhưng không tự in hóa đơn thì được tạo hóa đơn đặt in hoặc mua hóa đơn đặt in của cơ quan thuế.

- Tổ chức không phải là doanh nghiệp; hộ, cá nhân không kinh doanh nhưng có phát sinh hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cần có hóa đơn để giao cho khách hàng được cơ quan thuế cấp hóa đơn lẻ.

Tổ chức khi tạo hóa đơn không được tạo trùng số hóa đơn trong cùng ký hiệu.

Chất lượng giấy và mực viết hoặc in trên hóa đơn phải đảm bảo thời gian lưu trữ theo quy định của pháp luật về kế toán. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế.