1. Xử lý hành vi trộm cắp điện theo pháp luật ?

Thưa luật sư, xin hỏi: 1. Văn bản chuyển hồ sơ vụ trộm cắp điện ? 2. Biên bản vi phạm hành chính ? 3. Bản tính số lượng điện bị trộm cắp và giá trị thiệt hại do hành vi trộm cắp điện gây ra (tiền bồi thường đối với hành vi trộm cắp điện) ? Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Căn cứ pháp lý xử lý hành vi trộm cắp điện

- Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

- Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Nghị định số 134/2013/NĐ-CP ngày 17/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, an toàn đập thủy điện và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

- Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT-BCT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 17/08/2015 của Bộ trưởng Bộ Công Thương, Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn chuyển hồ sơ vụ trộm cắp điện để truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Luật sư tư vấn xử lý hành vi trộm cắp điện:

2.1. Trộm cắp điện

"Điều 3. Giải thích từ ngữ

3. Trộm cắp điện là hành vi lấy điện trái phép không qua công tơ, tác động nhằm làm sai lệch chỉ số đo đếm của công tơ và các thiết bị điện khác có liên quan đến đo đếm điện và các hành vi lấy điện gian lận khác."

2.2. Xử lý hành vi trộm cắp điện

+ Xử lý hành chính:

"Điều 12. Vi phạm các quy định về sử dụng điện

...9. Phạt tiền đối với hành vi trộm cắp điện dưới mọi hình thức như sau:

a) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng dưới 1.000kWh;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng từ 1.000kWh đến dưới 2.000kWh;

c) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng từ 2.000kWh đến dưới 4.500kWh;

.....

+ Xử lý hình sự

"Điều 4. Chuyển hồ sơ vụ trộm cắp điện để truy cứu trách nhiệm hình sự

Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 33; khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 34 Nghị định số 134/2013/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, an toàn đập thủy điện và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (sau đây viết tắt là Nghị định số 134/2013/NĐ-CP) có trách nhiệm chuyển hồ sơ vụ trộm cắp điện cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo Điều 138 Bộ luật hình sự trong các trường hợp sau:

1. Hành vi trộm cắp điện thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 134/2013/NĐ-CP.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn cách thức trình báo công an khi bị mất trộm tài sản ? Mức phạt hành vi trộm cắp

2. Người trộm cắp đánh chết chủ nhà ?

Thưa luật sư, xin hỏi: A lợi dụng đêm tối vào nhà bà B (60 tuổi, độc thân) chiếm đoạt tài sản. Bị chủ nhà phát hiện, A dùng gậy gỗ đánh mạnh vào đầu bà B, sau đó lục tìm lấy tiền, vàng. Khi lấy được tiền, vàng, điện thoại của bà B (trị giá 60 triệu đồng) định bỏ đi thì phát hiện bà B còn sống, A đã bóp cổ nạn nhân đến chết.

A sau đó đã bị tòa án kết án về tội giết người theo khoản 1 điều 123 và tội cướp tài sản theo khoản 2 điều 168 BLHS. Câu hỏi:

1. Tội giết người và tội cướp tài sản mà A thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc cấu thành tội phạm cơ bản hay cấu thành tội phạm tăng nặng. Tại sao?

2. Phân tích, xác định lỗi của người phạm tội trong tình huống nêu trên.

3. Giả sử A vừa chấp hành xong hình phạt 5 năm tù về tội cướp giật tài sản (chưa được xóa án tích) lại phạm tội như tình huống nêu trên thì trường hợp phạm tội của A được coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?

Cảm ơn luật sư!

Trả lời:

1. Tội giết người và tội cướp tài sản mà A thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc cấu thành tội phạm tăng nặng.

Khoản 1, Điều 123, Bộ luật hình sự năm 2015 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017); quy định về tội giết người như sau:

"1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

Như vậy theo điểm g, khoản 1 Điều này, A đã thực hiện hành vi "bóp cổ nạn nhân đến chết" nhằm che giấu một tội phạm trước đó đó là cướp tài sản của bà B. Bên cạnh đó, hành vi "lục tìm lấy tiền, vàng, điện thoại của bà B (trị giá 60 triệu đồng) theo quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 168 BLHS 2015 "Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng" sẽ bị phạt từ 07 đến 15 năm tù.

Mà theo Điều 52 BLHS 2015 quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì trường hợp này thuộc điểm k, khoản 1 Điều 52:

"k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác"

Có thể thấy trong tình huống trên, khi A dùng gậy gỗ đánh mạnh vào đầu bà B tức là bà B đã rơi vào tình trạng không thể tự vệ được, A đã lợi dụng điều này để thực hiện hành vi cướp tài sản, do đó tội giết người và tội cướp tài sản mà A thực hiện thuộc trường hợp cấu thành tội phạm tăng nặng.

2. Lỗi của người phạm tội trong tình huống nêu trên là lỗi cố ý.

Theo Điều 10 BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về việc cố ý phạm tội:

"Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra."

Trong trường hợp này, A phạm tội thuộc vào khoản 1 Điều này. Do A có sự chuẩn bị trước, lợi dụng đêm tối, vào nhà bà B với mục đích chiếm đoạt tài sản. Khi bị bà B phát hiện đã có hành vi dùng gậy gỗ đánh mạnh vào đầu bà B, rõ ràng A biết hành vi đó có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của bà B, thấy trước hậu quả có thể xảy ra là ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người khác nhưng vẫn thực hiện. Sau đó khi biết bà B vẫn còn sống, A đã bóp cổ bà B đến chết, ở đây A đương nhiên có thể thấy trước hậu quả xảy ra và mong muốn cho hậu quả xảy ra, và hậu quả là bà B đã tử vong. Do đó, lỗi của A là lỗi cố ý.

>> Xem thêm:  Xe trộm cắp đem đi cầm cố chủ hộ kinh doanh đi tiêu thụ phải ngồi tù ?

3. Trộm cắp máy tính bị phạt tù thế nào?

Mong luật sư giải đáp giúp tôi vấn đề sau: Bạn của tôi đã cùng 2 người nữa trộm cắp 12 chiếc laptop của Công ty và bỏ trốn và bán được 30 triệu, công an đã lập tức bắt được 1 người trong 3 người cùng bắt thêm 1 người mua lại những máy tính đó, và đã thu hồi lại được 10 chiếc máy tính, 2 người còn lại bỏ trốn và cơ quan công an đã phát lệnh truy nã được vài tháng, và 2 người đó mới đây cũng đã bị bắt.
Mong luật sư giải đáp giúp tôi vấn đề sau: Bạn của tôi đã cùng 2 người nữa trộm cắp 12 chiếc laptop của Công ty và bỏ trốn và bán được 30 triệu, công an đã lập tức bắt được 1 người trong 3 người cùng bắt thêm 1 người mua lại những máy tính đó, và đã thu hồi lại được 10 chiếc máy tính, 2 người còn lại bỏ trốn và cơ quan công an đã phát lệnh truy nã được vài tháng, và 2 người đó mới đây cũng đã bị bắt.
Luật sư cho tôi hỏi bạn tôi lấy 12 chiếc laptop trị giá bao nhiêu thì tôi cũng không biết và đã thu hồi được 10 chiếc, vậy khung án của bạn tôi là bao nhiêu năm? Bạn tôi chưa tiền án tiền sự.
Xin cám ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Tội trộm cắp tài sản và các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản là gì?

Trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể các yếu tố cấu thành của tội này như sau:

- Chủ thể: Cũng tương tự như đối với tội xâm phạm sở hữu khác, chủ thể của tội trộm cắp tái sản là chủ thể thường. Nghĩa là, bất kỳ người nào đủ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể trở thành chủ thể của tội trộm cắp tài sản.

- Khách thể: Tội trộm cắp tài sản chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, mà không xâm phạm đến quan hệ về nhân thân. Đây là điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, bởi trong cấu thành tội trộm cắp tài sản nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt.

- Mặt khách quan: Hành vi khách quan: là hành vi "chiếm đoạt" tài sản, nhưng hành vi chiếm đoạt ở đây là chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như: chen lấn, xô đẩy, nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người quản lý tài sản không biết.

2. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như thế nào?

Theo Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Trong trường hợp có đủ các điều kiện như trên nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

- Các tình tiết giảm nhẹ bao gồm:

+/ Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

+/ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

+/ Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

+/ Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

+/ Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

...

=> Như vậy, do bạn chưa đưa được ra số lượng giá trị của tổng tài sản trộm cắp nên chưa thể định khoản cho bạn của bạn được, tuy nhiên dựa trên các tình tiết giảm nhẹ ở trên đây, thì bạn có thể xem xét về vấn đề mức hình phạt của bạn của bạn, bạn của bạn càng nhiều tình tiết giảm nhẹ thì hội đồng xét xử cũng sẽ xem xét mức án cho bạn của bạn.

>> Xem thêm:  Tư vấn cách xử lý khi bị vu oan tội trộm cắp tài sản ?

4. Người dưới 18 tuổi trộm cắp tài sản ?

Kính gửi công ty Luật Minh Khuê, Thưa luật sư, luật cho tôi xin hỏi một trường hợp như sau: A và B (cùng 17 tuổi) bàn nhau vào nhà C lấy tài sản , A đứng ngoài canh gác cho B dùng kìm bẻ khóa rồi vào nhà c lấy tài sản , B dắt chiếc xe máy trị giá 30 triệu của C ra thì bị anh T là hàng xóm của C phát hiện, B liền rút dao đâm một nhát vào ngực T, rồi bỏ đi, sau đó T tử vong,hành vi của B cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 điều 123 BLHS.
Vậy theo điều 9 thì B thuộc loại tội phạm gì, và với hành vi trên thì tòa án có thể định mức phạt cho B như thế nào?
Cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Điều 9 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định:

"Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:

1. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

2. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;

......

Khoản 1 và Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội trộm cắp tài sản như sau:

"Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

Theo căn cứ trên thì B sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 2 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 , cụ thể là căn cứ theo các điểm a và điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 . Theo đó mức phạt cao nhất của hành vi này là phạt tù 7 năm. Vậy nên với hành vi này thì loại tội phạm là tội phạm nghiêm trọng.

Khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội giết người như sau:

"Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

Theo căn cứ trên và tình tiết của vụ án thì B đã phạm tội giết người theo điểm g và điểm o Khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Theo đó, khung hình phạt cao nhất của tội phạm này là tử hình. Vậy nên loại tội phạm tối với hành vi này là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Khoản 5 Điều 91 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định:

"5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội"

Đồng thời khoản 1 Điều 103 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định:

"1. Khi xét xử cùng một lần người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm. Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội."

Theo căn cứ trên thì B sẽ không bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, mức phạt cao nhất đối với hành vi trên là 18 năm tù có thời hạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê