NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Động lực cá nhân
Nền kinh tế dựa trên tri thức lấy nguồn vốn trí tuệ của cá nhân làm nền tảng. Nguồn vốn này cung cấp cho nền kinh tế sự sáng tạo và đổi mới, dẫn đến sự tăng trưởng mạnh và phát triển năng động.
Cuộc cách mạng số, Internet và thương mại điện tử, tất cả đều là hiện tượng toàn cầu, phục vụ cho việc tăng cường vai trò của cá nhân trong xây dựng một nền kinh tế dựa trên tri thức. Chúng cung cấp các phương tiện để liên kết những người có cùng ý tưởng trên toàn cầu, để thiết lập sự hợp tác cần thiết nhằm tạo ra tiến bộ thực sự, đồng thời ủng hộ và tạo thuận lợi cho việc chia sẻ mục tiêu chung cũng như các công cụ cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. Thương mại điện tử cũng gây ấn tượng bởi sự tăng trưởng rất nhanh và tiềm năng của nó để hỗ trợ việc phân phối một khối lượng cực lớn hàng hoá và dịch vụ.
Vậy cái gì là cái mang động lực tới cho cá nhân trong lĩnh vực Internet, thương mại điện tử và công nghệ đang phát triển nhanh chóng là công nghệ số? Sáng tạo và đổi mới đóng một vai trò then chốt. SHTT tạo ra sự khuyến khích được nhận biết rõ rằng để thúc đẩy và hiện thực hoá sự sáng tạo và đổi mới. Việc tạo ra mới liên kết hữu hình giữa sản phẩm và dịch vụ đã có và khả năng rõ ràng về việc được đền đáp khi công chúng ưa chuộng sản phẩm và dịch vụ cũng có giá trị đáng kể. Cùng với những yếu tố khác, các yếu tố này đã được chỉ ra nhiều vấn đề lớn nhằm khuyến khích những nhà sáng tạo và đổi mới, doanh nghiệp và công ty ở tất cả các tầng lớp của xã hội trong việc tạo ra những công trình hữu hình và vô hình, cũng như những sáng chế làm giàu cho cuộc sống kinh tế, văn hoá và xã hội của chúng ta.
Có một mặt trái của kịch bản này, cũng được ghi nhận rõ rằng và thật không may đó lại là điều quá quen thuộc: có bao nhiêu nước hay khu vực mà cơ sở hạ tầng SHTT không đầy đủ, nơi nhà sáng tạo và đổi mới biết chắc rằng sáng tạo và sáng chế của họ sẽ bị đánh cắp từ trong tay họ và họ sẽ không nhận được một sự đền đáp hoặc tôn vinh nào? Những nơi như vậy sẽ có ít, nếu như có, thành công trong việc xây dựng và thu hút những ngành công nghiệp, hoạt động R&D, chuyển giao công nghệ, chế tạo và FDI mới cho nền kinh tế của mình.
2. Động lực sở hữu trí tuệ (SHTT)
Một hệ thống SHTT có hiệu quả và mạnh tạo ra và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xã hội và văn hoá quốc gia. Nó có thể kích thích đầu tư, R&D và các hoạt động liên quan trong sáng tạo và phổ biến sản phẩm, dịch vụ mới và quan trọng nhất là có sự tăng trưởng rất nhanh tri thức mới được tạo ra mà đến lượt nó tạo ra thêm động lực cho các cá nhân trong xã hội, cũng như xã hội nói chung. Kết quả thu được là một chu trình chia sẻ và khai thác tri thức mới và hữu ích, rốt cuộc có lợi cho mọi người trong xã hội. Đây là lời hứa hẹn của SHTT.
Thông qua các Chương trình, việc phân bổ ngân sách, hoạt động và mục tiêu đã công bố của mình, WIPO ủng hộ mô hình của một hệ thống SHTT tạo ra động lực cho các cá nhân và xã hội. Rất đơn giản, đó là động lực SHTT trong vai trò một mô hình đã được thực hiện, đồng thời đang và sẽ là cơ sở cho chiến lược của WIPO trong những năm tới.
Một trong những mục đích hàng đầu của WIPO trong việc thực hiện chiến lược tạo ra động lực SHTT của mình sẽ là tạo lập một cộng đồng toàn cầu bao gồm những cá nhân, chính phủ, doanh nghiệp và những thành phần liên quan khác, tất cả họ sẽ sử dụng SHTT và hệ thống đảm bảo cho SHTT một cách tích cực như những công cụ đắc lực tạo thuận lợi cho tăng trưởng, phát triển và cải thiện nền kinh tế dựa trên tri thức. Thông qua việc truyền bá một nền văn hoá SHTT và tạo ra một cộng đồng cùng chí hướng SHTT toàn cầu, Tổ chức này có thể đóng góp vào sự thịnh vượng cho xã hội, kinh tế và văn hóa của các dân tộc.
3. Những bộ phận của xã hội mang động lực sở hữu trí tuệ
Ý chí chính trị, một khuôn khổ pháp lý, những tổ chức trọng yếu và một nền văn hoá SHTT có thể được xem là thành phần cơ bản của xã hội có động lực SHTT Để thể hiện và nhận diện đầy đủ các giá trị mà SHTT mang lại cho xã hội, cần có một môi trường trong đó các bộ phận cấu thành này tồn tại và hoạt động đầy đủ. Việc thiếu một trong các bộ phận cấu thành này sẽ dẫn đến nền kinh tế trì trệ và yếu kém, thiếu tính sáng tạo và cải tiến cũng như môi trường kinh doanh thiếu động lực, thiếu sự nhất quán hoặc sự tin cậy. Ta hãy xem xét từng bộ phận này:
(1) Ý chí chính trị.
Các nhà lãnh đạo chính phủ của các quốc gia Thành viên của WIPO thừa nhận giá trị của SHTT và hệ thống SHTT; nhu cầu về luật pháp phù hợp với tất cả các nghĩa vụ quốc tế; sự cần thiết của các cơ quan quan trọng như IPO, toà án, các tổ chức văn hóa và nghiên cứu; và giá trị lớn lao cần dành cho nền văn hoá SHTT trong đó mọi thành viên của xã hội đều nhận thức đầy đủ về tác động tích cực mà quyền SHTT có thể mang lại cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nội thường và ngoại thường, đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ. Đây là bộ phận đầu tiên trong nền tảng của xã hội mang động lực SHTT và điều cơ bản là các nhà lãnh đạo biểu lộ sự cam kết của họ đối với quan điểm coi SHTT như một công cụ để cải thiện đời sống nhân dân nước mình.
(2) Khuôn khổ pháp lý.
Trong khi sự cần thiết về ý chí chính trị không thể xem nhẹ, quyền SHTT lại dựa trên luật pháp quốc gia. Hệ thống luật pháp đó phải phù hợp với các nghĩa vụ theo các điều ước và công ước quốc tế về SHTT đặc biệt là Công ước Paris, Công ước Berne và Hiệp định TRIPS. Khi mà cộng đồng SHTT quốc tế nhất trí rằng cần phải có các chuẩn mực quốc tế mới (như thông qua một hội nghị ngoại giao) thì khuôn khổ pháp lý quốc gia có thể được bổ sung, sao cho các chuẩn mực quốc tế mới được thông qua, chẳng hạn như PLT WCT và WPPT được đưa vào hệ thống luật pháp một cách nhanh chóng và hiệu quả. Điều quan trọng là hệ thống luật pháp phản ánh một sự cần bằng thỏa đáng giữa các khu vực, bao gồm khu vực công ích, tư nhân và công nghiệp, người tiêu dùng và chính phủ. Vai trò then chốt của bộ phận này, khuôn khổ pháp lý, nhấn mạnh rằng luật pháp là một trong các nền tảng quan trọng nhất của xã hội mang động lực SHTT.
(3) Các tổ chức quan trọng.
Quyền SHTT tiếp xúc với xã hội thông qua các tổ chức có quan hệ với chúng. Các tổ chức đó bao gồm chính phủ (CQSHTT và những cơ quan pháp luật có liên quan như các cơ quan xử lý vân đề sức khoẻ và an toàn, thuế, vấn đề người tiêu dùng và ngoại giao); toà án (bao gồm thẩm phán và luật sư); tổ chức giáo dục và nghiên cứu cũng như cơ quan thực thi. Các tổ chức này cần có sự nhạy cảm với giá trị của quyền SHTỊ không được tạo ra rào cần đối với tăng trưởng hoặc thương mại và phải khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới theo đúng nghĩa của nó, thông qua mọi hành động và quyết định mà các tổ chức đó đưa ra hoặc thực hiện. Một khía cạnh đặc biệt quan trọng về các tổ chức không thể thiếu được này là nguồn nhân lực và việc cãi thiện, phát triển nguồn lực đó. Không có một tổ chức nào có thể hoạt động mà không có những con người làm tốt công việc của mình. Một kịch bản trong đó nguồn nhân lực không được đảm bảo tốt sẽ không thể thực hiện được một cách tới ưu.
(4) Văn hoá SHTT.
Bộ phận này là bộ phận cuối cùng không phải vì nó ít quan trọng nhất mà bôi vì nó đi sau các bộ phận khác về trình tự thời gian và tiến trình phát triển. Trong một nền văn hoá SHTT chính phủ và các cơ quan tìm cách gia tăng giá trị và nâng cao mức sống bằng cách cổ suý cho việc sử dụng SHTT ngày một nhiều hơn với vai trò là một công cụ để tăng trưởng kinh tế. Khu vực tư nhân, từ những công ty đa quốc gia đến SME và sở hữu cá thể, đều thừa nhận giá trị của SHTT trong công nghiệp dựa vào tri thức. Những tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ và văn hoá được đánh giá cao và được tài trợ. Công nghệ thông tin và truyền thông được nhấn mạnh và sử dụng một cách có hiệu quả. Nhiểu lĩnh vực khác nhau của nên văn hoá SHTT giao dịch với nhau, buôn bán với nhau và hành động với nhận thức về cả sự khuyến khích và lợi ích của hệ thống SHTT Công chúng nói chung hiểu được lợi ích của việc mua hàng hoá, dịch vụ hợp pháp và qua đó thúc đẩy nền công nghiệp và kinh tế địa phương.
Như đã nêu trên đây, sự thiếu váng một trong các bộ phận này có thể làm tê liệt toàn bộ hệ thống và vì thế ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế. Chính sự kết hợp các bộ phận cơ bản, nhiều cấp độ này phục vụ cho việc tạo ra môi trường trong đó sự sáng tạo và đổi mới được khuyến khích và kích thích: trong đó một nguồn ổn định những sản phẩm, dịch vụ mới được tạo ra và phân phối làm cho cuộc sống hàng ngày dễ chịu hơn, hiệu quả và thú vị hơn; và trong đó giới doanh nghiệp tập trung vào việc sáng tạo sản phẩm, phát triển, xây dựng cổ phần nhãn hiệu và thị phần, giải quyết những vướng mác, giúp loại bỏ bệnh tật và ốm đau, mở rộng khả năng giáo dục và nói chung là nâng cao mức sống của mọi người trong xã hội. Đó chính là xã hội mang động lực SHTT.
4. Kết luận:
Vậy thì vai trò của WIPO đối với xã hội mang động lực SHTT là gì? Tổ chức này liên tục tìm cách hỗ trợ các quốc gia Thành viên trong cả bốn bộ phận nêu trên bằng cách giúp huấn luyện, hội thảo cũng như trợ giúp pháp lý và kỹ thuật. Những lớp tập huấn và hội thảo dành cho quan chức chính phủ, nhà lập pháp, viên chức của WIPO, ngành tư pháp và luật sư, quan chức thực thi, người hành nghề SHTT người sáng tạo và đổi mới, cũng như những người khác, thường xuyên được WIPO tổ chức và giơi thiệu với sự phối hợp của các chính phủ quốc gia Thành viên. Thông qua việc quan tâm đến các bộ phận thật sự tạo thành môi trường trong đó quyền SHTT đóng một vai trò lớn, WIPO và các công việc mà nó thực hiện phục vụ cho việc tăng cường phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá; nâng cao mức sống cho mọi tầng lơp xã hội; tạo ra những cơ hội mới và được đền đáp cho khu vực công cộng và tư nhân; và giúp các nước cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Nhìn chung, vai trò của WIPO là làm cho thế giới tốt đẹp hơn bằng cách cố gắng đạt được mục tiêu đó, phù hợp với nhiệm vụ của WIPO.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!