1. Có được tặng cho tài sản chung sau khi vợ hoặc chồng qua đời ?

Chào luật sư, tôi xin trình bày trường hợp của tôi mong luật sư tư vấn giúp tôi. Năm 1992 mẹ ruột tôi mất có để lại một mảnh đất là tài sản chung của bố mẹ tôi, sau này khi làm lại sổ đỏ và sổ hộ khẩu vì mẹ tôi đã mất nên không còn đứng tên trên 2 loại sổ này.
Năm 2002 bố tôi đã lấy thêm mẹ kế và mẹ kế đã nhập khẩu vào sổ hộ khẩu tên chủ hộ là bố tôi, bây giờ bố tôi muốn tách sổ đỏ cho tôi phần đất là tài sản chung của bố mẹ tôi nhưng mẹ kế lại không muốn như vậy. Luật sư cho tôi hỏi mẹ kế tôi có quyền quyết định cho hay không cho tài sản chung của bố mẹ tôi hay không? Và để không cần sự quyết định của mẹ kế thì tôi cần phải làm những thủ tục gì để có thể đứng tên mảnh đất đó?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Phân chia tài sản chung sau ly hôn thực hiện như thế nào ? Làm sao để chứng minh công sức đóng góp vào tài sản chung ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, đối với vấn đề bạn có hỏi, trường hợp của bạn thì mẹ kế bạn có quyền quyết định cho hay không cho tài sản chung của bố mẹ bạn hay không?

Như bạn đã trình bày, mảnh đất bạn có nêu là tài sản chung của bố mẹ bạn, nay mẹ bạn đã mất thì theo quy định pháp luật hiện hành, cụ thể tại khoản 1, khoản 2 Điều 66 về giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:

" 1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.....".

Như vậy tài sản chung là mảnh đất này sau khi mẹ bạn chết vẫn được xác định là tài sản chung của bố mẹ bạn, và sẽ được giao cho bố bạn quản lý, tài sản chung này sẽ được chia đôi cho bố và mẹ bạn khi bạn hoặc người thừa kế khác có yêu cầu chia di sản. Trong trường hợp có yêu cầu chia di sản thì một nửa phần di sản (một nửa diện tích đất) sẽ thuộc sở hữu của bố bạn (được xác định là tài sản riêng của bố bạn vì tài sản này là tài sản có được trước thời kỳ hôn nhân với mẹ kế bạn theo quy đinh tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình), vì vậy bố bạn có quyền chuyển nhượng, tặng cho phần đất này cho bạn, trừ trường hợp phần tài sản này đã được bố bạn thỏa thuận là tài sản chung của bố bạn và mẹ kế (tham khảo Điều 33 về tài sản chung của vợ chồng). Đối với một nửa phần di sản (một nửa diện tích đất) được chia cho mẹ bạn thì sẽ được tiến hành chia theo pháp luật cho những người thừa kế (vì trong trường hợp này không có di chúc), và bố bạn không có quyền tặng cho đối với phần di sản này, bạn sẽ được phân chia một phần di sản theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 đối với một nửa diện tích đất mà mẹ bạn để lại. Theo đó, đối phần tài sản là mảnh đất của bố mẹ bạn, mẹ kế bạn sẽ không có quyền quyết định việc tặng cho hay không tặng cho nếu bố bạn không thỏa thuận phần đất của bố bạn là tài sản chung của vợ chồng giữa bố bạn và mẹ kế của bạn, ngược lại mẹ kế bạn có quyền can thiệp nếu phần đất của bố bạn trong diện tích đất ban đầu đã được thỏa thuận là tài sản chung trong quan hệ kết hôn sau với mẹ kế của bạn.

Thứ hai, bạn có hỏi cần phải làm những thủ tục gì để có thể đứng tên mảnh đất đó?

Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời bạn như sau: bạn có thể gửi đơn tới Tòa án khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, sau khi gửi yêu cầu Tòa án sẽ tiến hành chia di sản theo pháp luật đối với mảnh đất nói trên, sau đó bạn có thể làm thủ tục sang tên phần đất mình được thừa kế cũng như được tặng cho từ bố bạn.

>> Xem thêm:  Đất đã tặng cho có được mang ra chia thừa kế không ? Thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất ?

2. Làm sao để chứng minh công sức đóng góp vào tài sản chung ?

Chào luật sư, xin hỏi: Tôi và vợ đăng kí kết hôn từ 2/4/2012 và có 1 con chung 20/6/2013. Chúng tôi có 1 mảnh đất do mẹ tôi tặng 2 vợ chồng và xây được một căn nhà cấp 4. Vợ tôi thất nghiệp từ năm 2014. Chủ yếu tài sản là do tôi làm ra.
Tiền xây nhà còn nợ 200 triệu của người trong gia đình (không có giấy vay nợ). Tiền lương tôi đi làm về đưa vợ tôi giữ và chi tiêu. Vợ tôi tự ý chuyển tiền cho người khác ( tôi chỉ lưu được một biên lai) và cho người khác vay nặng lãi (tôi cũng chỉ biết 1 vụ và lưu lại được). Nay vợ tôi khởi kiện đòi ly hôn.
Xin hỏi luật sư tài sản chung sẽ chia như thế nào ? Tôi có thể yêu cầu toà kiểm tra số tiền, số lần vợ tôi chuyển cho người khác và yêu cầu toà phân chia theo công sức đóng góp vào tài sản chung hay không ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có xác định : Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Theo đó bạn có thể xác định đâu là tài sản chung mà mình có quyền yêu cầu Tòa án chia khi ly hôn. Với tài sản riêng thì người sở hữu phải tự chứng minh và xuất trình giấy tờ cho Tòa án, nếu không xuất trình được thì Tòa án sẽ coi đó là tài sản chung áp dụng theo luật.

- Về quyền nuôi con : Nếu như hai người không thỏa thuận được thì hai bên phải chứng minh các điều kiện đảm bảo tốt nhất cuộc sống của con. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, dựa trên quyền và lợi ích của con dựa trên các tiêu chí về điều kiện kinh tế, môi trường sống, thời gian làm việc...của hai bên để đưa ra quyết định ai là người được quyền nuôi con

- Về tài sản : Tòa án sẽ căn cứ theo điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn và yêu cầu của các bên khi ly hôn để làm căn cứ phân chia tài sản chung :

- Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

- Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

- Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Thỏa thuận về việcchia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó theo thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP về việc chia tài sản chung của vợ chồng được áp dụng. Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:

- Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.

- Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

+ Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng;

+ Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn;

+ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự;

Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc. Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về việc vợ bạn cho vay nặng lãi sẽ tùy thuộc vào tính chất mức độ của hành vi cho vay nặng lãi và hậu quả của hành vi cho vay nặng lãi thì người người vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật , có thể là xử lý hành chính hoặc hình sự được quy định tại Điều 201 Bộ Luật hình sự 2015.

>> Xem thêm:  Tặng cho hay thừa kế tài sản riêng thì tối ưu hơn ? Con nuôi được nhận thừa kế như con đẻ không ?

3. Hiệu lực của văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung khi một trong hai bên chết ?

Thưa luật sư, xin cho mẫu họp gia đình về trách nhiệm nuôi dưỡng bố mẹ ạ ? Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Bạn có thể tham khảo mẫu sau: Mẫu biên bản họp gia đình

Bạn có thể tùy vào nội dung cuộc họp là bàn về trách nhiệm nuôi dưỡng bố mẹ để thay thế cho phần nội dung trong mẫu có sẵn này.

>> Xem thêm:  Việt kiều có được hưởng thừa kế tại Việt Nam Không ? Đòi lại quyền sử dụng đất được thừa kế ?

4. Có được chia tài sản chung đứng tên người khác khi ly hôn ?

Xin chào Công ty Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề muốn được giải đáp: Vợ chồng tôi sống chung đã tròn 20 năm nhưng có đăng ký kết hôn và có tài sản chung là 1 căn nhà do 2 vợ chồng xây dựng nhưng đứng tên là mẹ đẻ tôi ,bây giờ muốn ly hôn vậy vợ tôi có được quyền chia tài sản khi ly hôn không?
Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Hoàn

Do mẹ bạn đã đứng tên căn nhà trên nên mẹ bạn là người có quyền sở hữu hợp pháp căn nhà đó. Có nghĩa là về mặt pháp lý, căn nhà đó không phải là tài sản chung của hai vợ chồng.

Trên thực tế, đó là tài sản chung của hai vợ chồng nên nếu đưa ra được các chứng cứ chứng minh mẹ bạn đứng tên căn nhà đó nhưng không phải là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà đó như giấy cam kết cho mẹ bạn đứng tên hộ hoặc hợp đồng mua bán nhà ở… thì có thể làm đơn khởi kiện ra toà án nhân dân cấp huyện nơi có nhà ở để đòi quyền sở hữu nhà ở. Bởi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 335 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì:

“Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

Khoản 2 Điều 26 Bộ luật này có quy đinh: tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật này thì toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về bất động sản.

Để yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì cần phải đưa ra được các căn cứ để chứng minh. Vấn đề này được quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

“Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.”

Nếu các căn cứ chứng minh căn nhà trên là tài sản chung của vợ chồng bạn là đúng thì Toà án sẽ xem xét,giải quyết trả lại căn nhà cho vợ chồng bạn. Khi đó, căn nhà sẽ nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Việc chia tài sản là căn nhà trên của vợ chồng sẽ được tiến hành theo nguyên tắc chung quy định tại khoản 1,2,3 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình số 52/2014/QH13 như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch […]”

Như vậy, vợ bạn có quyền được chia căn nhà là tài sản chung đứng tên mẹ bạn khi ly hôn nếu như có căn cứ chứng minh căn nhà đó là tài sản chung của vợ chồng.

>> Xem thêm:  Thủ tục tặng cho di sản thừa kế ? Thủ tục chia i sản thừa kế là đất đai như thế nào ?

5. Chia tài sản chung của vợ chồng do bố chồng đứng tên ?

Thưa luật sư, chị gái tôi đã kết hôn và sinh được hai bé gái, nay chồng chị đang nghiện ma túy, hai vợ chồng cùng nhau làm được gian nhà ống nhưng sổ đỏ mang tên bố chồng chị. Vậy luật sư cho em hỏi nếu ly dị thì chị em có được hưởng tài sản gì không?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: hoan....@gmail.com

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình về chia tài sản chung: 1900.6162

Trả lời

- Khi ly hôn thì tài sản chung được phân chia theo quy định của pháp luật. Về nguyên tắc việc xác định là tài sản chung để phân chia được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, hai vợ chồng cùng nhau làm được gian nhà ống thì ngôi nhà này sẽ được xác định là tài sản chung vợ chồng do vợ chồng dùng công sức đóng góp của mình tạo lập xây dựng lên, vì vậy khi ly hôn thì tài sản này sẽ được phân chia theo nguyên tắc chia tài sản chung như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

- Về giá trị quyền sử dụng đất thì đây là mảnh đất của bố chồng bạn, chưa tiến hành sang tên sở hữu thì không được xác định là tài sản chung và không chia. Ngoài ra nếu như bạn xác định được ngoài ngôi nhà còn những tài sản chung khác thì có thể phân chia tương tự theo quy định trên.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Không có hộ khẩu trong gia đình có được quyền hưởng di sản thừa kế không ?