1.Kháng nghị của Viện Kiểm sát là gì ?

>> Xem thêm: Kháng nghị là gì ? Quy định của pháp luật về kháng nghị

Kháng nghị của Viện kiểm sát là Việc Viện kiểm sát, khi thực hành quyền kiểm sát hoạt động tư pháp không đồng ý với với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định củaTòa án, gửi văn bản đến Tòa án có thẩm quyền làm ngừng hiệu lực thi hành đối với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định đó để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đảm bảo cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan, đúng pháp luật.

Kháng nghị là quyền theo luật định, đồng thời, là một trong những hoạt động chủ yếu của Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát tư pháp.

Về thẩm quyền và phạm vi kháng nghị

Về thẩm quyền và phạm vi kháng nghị đã được quy định rất rõ tại Điều 336 BLTTHS 2015. Theo đó, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị toàn bộ quyết định hoặc bản án sơ thẩm. Theo như quy định tại khoản 2 Điều 357 BLTTHS 2015 thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị việc tăng mức bồi thường thiệt hại, theo chúng tôi là chưa hợp lý, bởi vì tại khoản 1, Điều 107 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Về bản chất, thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự3. Viện kiểm sát kiến nghị về mức bồi thường, bồi hoàn là vi phạm nguyên tắc động cơ hành động trong việc kháng nghị vì Viện kiểm sát là chủ thể của quyền công tố, không phải là chủ thể của tố quyền dân sự trong vụ án hình sự. Việc Viện kiểm sát kháng nghị về mức bồi thường, bồi hoàn là vi phạm nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, Viện kiểm sát không có quyền thỏa thuận với bị cáo hoặc đương sự về mức bồi hoàn

2. Kháng nghị của Viện kiểm sát được quy định thế nào?

>> Xem thêm: Bản cáo trạng là gì ? Khái niệm về bản cáo trạng ?

Kháng nghị của Viện kiểm sát được quy định tại Điều 336 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát xuất phát từ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự và quyền công tố buộc tội tại phiên tòa. Sau khi xét xử sơ thẩm nếu viện kiểm sát thấy bản án, quyết định sơ thẩm không đảm bảo tính hợp pháp, tính căn cứ, tội danh, hình phạt, mức bồi thường thiệt hại và các biện pháp khác do tòa sơ thẩm áp dụng không phù hợp với thực tế khách quan, tính chất và mức độ nghiêm trọng của vụ án hình sự.

Điều 336. Kháng nghị của Viện kiểm sát

1. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

2. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát có các nội dung chính:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;

b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;

c) Kháng nghị đối với toàn bộ hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm;

d) Lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;

đ) Họ tên, chức vụ của người ký quyết định kháng nghị.

3. Quyền kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát

>> Xem thêm: Công tố là gì ? Thực hành quyền công tố là gì ?

Quyền kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) được quy định tại Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

Theo đó, quyền kháng nghị được VKSND thực hiện khi phát hiện hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì VKSND phải kháng nghị. Khi nhận được kháng nghị của VKSND cơ quan, người có thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của VKSND theo quy định của pháp luật.

Tương tự, quyền kiến nghị được VKSND thực hiện khi phát hiện hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị nêu trên thì VKSND phải kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm. Khi nhận được kiến nghị của VKSND cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của VKSND theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy, Luật TCVKSND năm 2014 quy định rất cụ thể trường hợp nào VKSND ban hành kháng nghị và trường hợp nào VKSND ban hành kiến nghị. Khi nhận được kháng nghị, kiến nghị của VKSND thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện kháng nghị, kiến nghị đó. Luật TCVKSND năm 2002 quy định chế tài thực hiện kháng nghị, kiến nghị của VKSND còn chung chung nên ảnh hưởng không ít đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND.

Mặt khác, Điều 9 Luật TCVKSND năm 2014 đã quy định quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.

Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định, yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của VKSND; có quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo các hành vi, quyết định trái pháp luật của VKSND, VKSND phải giải quyết, trả lời theo quy định của pháp luật. Khi có căn cứ cho rằng hành vi, quyết định của VKSND không có căn cứ, trái pháp luật thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án và Cơ quan thi hành án có quyền kiến nghị, yêu cầu VKSND xem xét lại. VKSND phải giải quyết, trả lời theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân cản trở, can thiệp vào hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND; lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khác của VKSND.

Đồng thời, Điều 10 Luật TCVKSND năm 2014 quy định giám sát hoạt động của VKSND.

Theo đó, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát hoạt động của VKSND theo quy định của pháp luật.

Để thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định quyền kháng nghị, kiến nghị của VKSND và quyền kháng nghị, kiến nghị của VKSND đã được cụ thể hoá tại Bộ luật tố tụng hình sự (2015), Bộ luật tố tụng dân sự (2015), Bộ luật tố tụng hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2015), Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, Luật thi hành án hình sự năm 2010, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015… nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho VKSND hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, tạo niềm tin cho Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng là địa chỉ đáng tin cậy cho nhân dân trong hoạt động tư pháp.

Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát xuất phát từ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự và quyền công tố buộc tội tại phiên tòa. Sau khi xét xử sơ thẩm nếu viện kiểm sát thấy bản án, quyết định sơ thẩm không đảm bảo tính hợp pháp, tính căn cứ, tội danh, hình phạt, mức bồi thường thiệt hại và các biện pháp khác do tòa sơ thẩm áp dụng không phù hợp với thực tế khách quan, tính chất và mức độ nghiêm trọng của vụ án hình sự. Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp có thể liên quan tới một phần hoặc toàn bộ nội dung bản án, quyết định sơ thẩm.

Kháng nghị của viện kiểm sát có thể theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt, tăng nặng hoặc giảm nhẹ mức bồi thường đối với tất cả bị cáo hay một số bị cáo. Viện kiểm sát có thể kháng nghị theo hướng tăng hoặc giảm mức bồi thường thiệt hại đối với bị đơn dân sự hoặc các biện pháp khác mà tòa án cấp sơ thẩm đã nếu trong bản án, quyết định sơ thẩm. Kháng nghị cũng có thể theo hướng đề nghị xử bị cáo không có tội hoặc đề nghị xử bị cáo có tội. Để làm căn cứ cho việc xem xét các nội dung trong kháng nghị của mình, Viện kiểm sát phải nêu rõ lí do kháng nghị và mục đích của việc kháng nghị.

4. Xem xét kháng cáo, kháng nghị

>> Xem thêm: Những trường hợp nào phải chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát giải quyết ?

Trong trường hợp cùng một vụ án vừa có kháng nghị của Viện kiểm sát vừa có kháng cáo của những người tham gia tố tụng với nội dung khác nhau (ví dụ: Viện kiểm sát kháng nghị yêu cầu áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn, còn bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt), hoặc vừa có kháng nghị cùa Viện kiểm sát cấp sơ thẩm vừa có kháng nghị của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm mà nội dung của các kháng nghị này không mâu thuẫn với nhau, thì việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị được tiến hành đồng thời theo quy định chung. Nếu kháng nghị của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm có nội dung mâu thuẫn với kháng nghị của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm (ví dụ: Viện kiểm sát cấp sơ thẩm kháng nghị yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo, nhưng Viện kiểm sát cấp phúc thẩm lại kháng nghị theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo), thì Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung mâu thuẫn theo kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên.

5. Thẩm quyền kháng nghị

>> Xem thêm: Thủ tục và hình thức kháng cáo, kháng nghị vụ án hình sự ?

Trường hợp kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, thì Tòa an cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án và kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp Viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, việc kháng nghị và xét kháng nghị được tiến hành như đổi với bản án sơ thẩm. Trường hợp kháng nghị đối với các quyết định khác, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải căn cứ vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật liên quan quy định về thẩm quyền và thủ tục kháng nghị, giải quyết kháng nghị cụ thể đó để giải quyết.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)