1. Viện kiểm sát quân sự là gì ?

Viện kiểm sát quân sự là cơ quan thuộc hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân, được tổ chức trong quân đội nhân dân Việt Nam để thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quân đội.

Viện kiểm sát quân sự thực hành quyển công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điểu tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điểu tra đối với các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự, điều tra môt số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp trong quân đội; thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự của toà án quân sự; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của toà án quân sự, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lí và giáo dục người chấp hành án phạt tù do các cơ quan tư pháp trong quân đội đảm nhiệm.

Các viện kiểm sát quân sự gồm có viện kiểm sát quân sự trung ương là cơ quan thuộc cơ cấu Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương; viện kiểm sát quân sự khu vực.

2. Viện trưởng viện kiểm sát quân sự là gì ?

Viện trưởng viện kiểm sát quân sự là người đứng đầu cơ quan Viện kiểm sát quân sự, lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quân đội.

Theo Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 2002, chức vụ Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự được bổ nhiệm theo các cấp Viện kiểm sát quân sự.

Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, có nhiệm vụ chỉ đạo hoạt động của Viện kiểm sát quân sư các cấp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác kiểm sát trong quân đội trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp trên, Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp trên có quyền rút, đình chỉ hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát quân sự cấp dưới.

Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình trong việc khởi tố, bắt, giam, giữ, truy tố và các quyết định khác theo quy định của pháp luật; Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lí kỉ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyển hạn mà gây ra thiệt hại thì Viện kiểm sát quân sự nơi người đó công tác phải có trách nhiệm bồi thường và người đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Viện kiểm sát quân sự theo quy định của pháp luật.

3. Quy định về hệ thống viện kiểm sát quân sự ở Việt Nam

Hệ thống viện kiểm sát quân sự gồm: Viện kiểm sát quân sự trung ương; Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương; Viện kiểm sát quân sự khu vực.

3.1 Cơ cẩu tổ chức của Viện kiểm sát quân sự trung ương

- Viện kiểm sát quân sự trung ương thuộc cơ cấu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Thành phần của Viện kiểm sát quân sự trung ương gồm có Viện trưởng, các phó viện trưởng, kiểm sát viên, kiểm tra viên; thủ trưởng, các phó thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên, quân nhân khác, công chức, viên chức và người lao động khác.

Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

- Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự trung ương:

Thành phần gồm có Viện trưởng, các phó viện trưởng, một số kiểm sát viên.

Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là người chủ trì phiên họp của uỷ ban kiểm sát để thảo luận và quyết định những vấn đề như chương trình, kế hoạch công tác của viện kiểm sát quân sự; báo cáo của Viện trưởng trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng... (Điều 53 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014).

- Văn phòng.

- Cơ quan điều tra.

- Các phòng và tương đương.

3.2 Cơ cấu tổ chức của viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương

- Thành phần gồm có Viện trưởng, các phó viện trưởng, kiểm sát viên, kiểm tra viên, quân nhân khác, công chức, viên chức và người lao động khác.

Viện trưởng viện kiếm sát quân sự quân khu và tương đương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.

- Uỷ ban kiểm sát:

Thành phần gồm Viện trưởng, các phó viện trưởng, một số kiểm sát viên.

- Các ban và bộ máy giúp việc.

3.3 Cơ cấu tổ chức của viện kiểm sát quân sự khu vực

- Thành phần của viện kiểm sát quân sự khu vực gồm có Viện trưởng, các phó viện trưởng, kiểm sát viên, kiểm tra viên, quân nhân khác, công chức, viên chức và người lao động khác.

- Tổ chức bộ máy của viện kiểm sát quân sự khu vực gồm có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc.

4. Quá trình hình thành Viện kiểm sát quân sự

Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Chính quyền mới từng bước được thành lập, hệ thống tòa án, công tố được thành lập song song với hệ thống cơ quan hành pháp nhằm bảo vệ hiệu quả nền độc lập của nước nhà. Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 13C-SL, trong đó quy định: “Đứng buộc tội là một ủy viên quân sự hay một ủy viên của Ban trinh sát”. Như vậy, chức năng công tố đã được xác định bằng một văn bản pháp luật của nhà nước, mặc dù lúc đó chưa có cơ quan Công tố riêng biệt mà còn nằm trong tổ chức của Tòa án quân sự.
Những năm sau đó, Chính phủ ban hành nhiều sắc lệnh về công tác tư pháp, các văn bản này chính là những cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hình thành Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), trong đó, có Viện kiểm sát quân sự (VKSQS): Sắc lệnh số 163 ngày 23/8/1946 thành lập Tòa án binh lâm thời đặt tại Hà Nội; Sắc lệnh số 19/SL ngày 16/2/1947 thành lập các Tòa án binh khu; Sắc lệnh số 45/SL ngày 25/4/1947 thành lập Tòa án binh tối cao quản hạt là toàn cõi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Sắc lệnh số 59/SL thành lập Tòa án binh khu trung ương, đặt tại Bộ Quốc phòng… Ngày 01/7/1959, Chính phủ ban hành Nghị định số 256-TTg quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố trung ương và hệ thống Viện công tố. Nhiệm vụ chung của Viện công tố các cấp là: Giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật Nhà nước, truy tố theo luật hình sự những người phạm tội để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản công, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, đảm bảo cho công cuộc kiến thiết và cải tạo xã hội chủ nghĩa tiến hành thuận lợi. Nhiệm vụ cụ thể của Viện công tố là: Điều tra và truy tố trước Toà án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra; giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc xét xử của các Toà án; giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án về hình sự, dân sự và trong hoạt động của cơ quan giam giữ và cải tạo; khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của nhà nước và của công dân. Hệ thống Viện công tố gồm có: Viện công tố trung ương; Viện công tố địa phương các cấp; Viện công tố quân sự các cấp. Nhân sự Viện công tố gồm có Viện trưởng, Phó Viện trưởng và một số Công tố uỷ viên.
Thiếu tướng Tạ Quang Khải, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương
Ngày 15/7/1960, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Luật tổ chức VKSND. Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh số 20-LCT công bố Luật tổ chức VKSND. Trong đó, tại Điều 4 quy định VKSND gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các VKSND địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.
Như vậy, Luật tổ chức VKSND năm 1960 là cơ sở pháp lý quan trọng đánh dấu bước ngoặt lớn chuyển từ Viện công tố trở thành VKSND. Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, VKSND được quy định là một cơ quan nhà nước độc lập, tổ chức và hoạt động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ đó là: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật, làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững. Mục đích của việc kiểm sát là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi”.
Thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức VKSND năm 1960, tại phiên họp từ ngày 24 đến ngày 29/4/1961, Thường trực Quân ủy trung ương ra quyết nghị tổ chức VKSQS trong Quân đội và chỉ định Thiếu tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Đạo, giữ chức vụ Viện trưởng VKSQS trung ương.
Thi hành quyết nghị trên của Thường trực Quân ủy Trung ương, ngày 12/5/1961, Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng đã ra Thông tri số 06/TT-H hướng dẫn tổ chức các VKSQS. Viện kiểm sát quân sự thuộc hệ thống VKSND, đặt trong Quân đội dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng ủy Quân sự trung ương (nay là Quân ủy trung ương) và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của Viện trưởng VKSND tối cao, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát được quy định trong Luật tổ chức VKSND, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Quân đội, giữ vững trật tự kỷ cương của nhà nước trong các giai đoạn của cách mạng. Ngày 07/8/2009, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định số 2628/QĐ-BQP công nhận ngày 12/5/1961 là ngày truyền thống của ngành Kiểm sát quân sự.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của của Viện Kiểm Sát quân sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê