1. Tổng quan xây dựng văn hóa quyền con người

Có nhiều lý do để quy định về quyền con người trong hiến pháp; các quy định đó sẽ giới hạn quyền lực nhà nước, là một phần của dân chủ, thiết lập nền tảng cho văn hóa quyền con người và góp phần tạo nên tính hợp thức của hiến pháp. Văn hóa quyền con người tạo không gian cho mọi cá nhân và các nhóm có thể tổ chức và tìm kiếm lợi ích của mình. Nó cho phép những người dân bình thường có thể thách thức các quan chức và các thiết chế chính quyền. Điều đó cho thấy quyền con người “vận hành” như thế nào và do đó đi xa hơn một bản hiến pháp và chạm đến các khía cạnh phức tạp hơn của xã hội. Từ góc độ luật quốc tế, quyền con người có tính phổ quát, không thể tách rời và không thể chuyển giao. Tuy vậy, có những tranh cãi rằng lý do để đưa một số quyền nào đó vào trong hiến pháp phải xuất phát từ bản chất và mục tiêu của chính bản hiến pháp. Trong những xã hội chịu ảnh hưởng của xung đột, các nhà lập hiến phải đối mặt với việc kiến thức về các quyền căn bản thường chỉ đến từ những điều ước quốc tế mà đã được nhà nước đó phê chuẩn. Nhưng thách thức ở đây không chỉ là soạn thảo một văn bản pháp lý hiện đại về các quyền mà phải sử dụng vấn đề bảo vệ quyền con người để thiết lập một xã hội hòa bình cho các nhóm đa dạng và mâu thuẫn nhau.

2. Tiến trình thông qua hiến pháp

Tiến trình thông qua hiến pháp cũng như loại hiến pháp được xây dựng là một trong những yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến khái niệm văn hóa quyền con người. Mục tiêu của văn hóa quyền con người không phải là tránh né sự căng thẳng như đã thấy trong những cuộc tranh luận nảy lửa về các vấn đề quyền con người giữa những nhóm khác nhau trong xã hội trong suốt quá trình xây dựng hiến pháp ở các nước. Các vấn đề đó bao gồm bảo đảm quyền của người thiểu số bằng một số biện pháp đặc biệt, quyền kinh tế từ tài nguyên quốc gia, quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình… Sự căng thẳng xuất hiện từ nhu cầu cân bằng giữa việc bảo vệ quyền con người và việc giải quyết bạo lực trong quá khứ, trong mối tương quan với hệ thống phân chia quyền lực và các nghĩa vụ quyền con người quốc tế phải thực thi, cũng như mâu thuẫn với các nguồn của luật quốc gia. Một khó khăn dễ thấy nữa là thực thi các quyền này; điều mà đòi hỏi phải có những đảm bảo về thể chế. Tuy vậy, khó xác định chính xác hiệu quả của việc áp dụng này khi các nhóm khác nhau tìm kiếm lợi ích bằng cách vận dụng các quyền với các toan tính được mất. Do đó, quy định về quyền lực và phân chia trách nhiệm trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến quyền con người cần được thực hiện một cách cẩn trọng. Mặc dù việc thực thi các quyền căn bản trở thành quen thuộc trong truyền thống pháp lý, các nhà lập hiến vẫn phải tìm kiếm một khung pháp lý linh hoạt để thực thi các quyền đó mà vẫn dành chỗ cho chính trị tham gia vào để đạt được sự đồng thuận tốt hơn về quyền con người. Vì vậy, các nhà lập hiến cần cân nhắc cách thức nào để đạt được sự cân bằng giữa quan điểm pháp lý về quyền con người và yêu cầu có sự thống nhất về chính trị?

3. Định nghĩa về văn hóa quyền con người

Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 đã ghi nhận trong đoạn 1 của Lời nói đầu về giá trị tuyệt đối và các quyền bình đẳng không thể chuyển giao của mọi thành viên trong cộng đồng như là nền tảng cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới. Nhân quyền là những ghi nhận pháp lý và đạo đức được coi là nền tảng để nhà nước thực thi quyền lực, đặc biệt là để hạn chế việc sử dụng quyền lực chống lại công dân. Từ quan điểm tôn giáo, quyền con người xuất phát từ giá trị nội tại thiêng liêng của con người – một sự sáng tạo về tinh thần và lý trí. Từ góc độ thế tục hoặc đạo đức, quyền con người phát triển từ luật tự nhiên như là những gì được làm nhằm bảo vệ nhân phẩm của mỗi cá nhân. Trong cả hai trường hợp, quyền con người là quan niệm về những gì đương nhiên được làm mà mỗi cá nhân hoặc nhóm có thể đòi hỏi cho dù luật do con người tạo nên cho phép hay không cho phép. Do đó, các quyền này không thể bị tách rời bởi luật. Đồng thời, các quyền được hiến pháp công nhận lại là sản phẩm của luật. Thông thường, chúng duy trì mối quan tâm và niềm tin rằng một xã hội coi bản sắc và việc xây dựng cộng đồng chính trị là nền tảng của xã hội đó. Theo quan niệm về chủ quyền nhân dân, nhân dân giao thẩm quyền và quyền lực vào tay các thiết chế nhà nước để quản lý đất nước chứ không phải nhận từ nhà nước các quyền đó.

4. Hiến pháp là một công cụ pháp lý và chính trị

Hiến pháp là một công cụ pháp lý và chính trị, thông qua đó, việc ủy quyền và bảo lưu quyền được thực hiện. Do đó, một nền văn hóa quyền con người được thể hiện trong các nội dung của Hiến pháp, nhưng cũng có thể thấy nằm ngoài các điều khoản cụ thể. Quyền con người được ghi nhận trực tiếp hoặc gián tiếp trong hiến pháp. Quy định trong hiến pháp về quyền con người không phải là mục đích cuối cùng, mà mới chỉ là sự khởi đầu để ghi nhận và bảo vệ lợi ích các cá nhân và nhóm người. Văn hóa quyền con người là dạng văn hóa theo đó xã hội coi trọng quyền con người ở mức độ mà hầu hết nếu không phải là mọi quyết định của nhà nước đều phải tối đa hóa các quyền đó. Một văn hóa quyền con người mạnh mẽ sẽ phát triển khi các hoạt động của các quan chức, thiết chế công hoặc của những nhân tố uy tín khác trong xã hội ngăn chặn bạo lực và hỗ trợ nạn nhân. Thiếu đi văn hóa tôn trọng các quyền, các bảo đảm trong hiến pháp trở nên vô nghĩa. Lý do để ghi nhận quyền con người trong hiến pháp, và đặc biệt là mục tiêu điều chỉnh các quyền này vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Nguyên do là vì các quyền này động chạm đến những cốt lõi trong tâm thức xã hội. Trong một số trường hợp, những cuộc tranh cãi làm tăng thêm cảm nhận về sự thù địch và chia rẽ, dẫn đến những rủi ro về bạo lực xã hội. Các nhà lập hiến cũng ngày càng có xu hướng đưa các quyền vào hiến pháp với mục đích lớn hơn việc giới hạn truyền thống đối với quyền lực nhà nước. Họ mong muốn sử dụng quyền con người để liên kết các thể chế và cơ quan quyền lực được thiết lập trong hiến pháp nhằm cùng theo đuổi mục tiêu công bằng, hòa bình, tái hòa hợp, thịnh vượng và lợi ích chung. Ngày nay, nhiều hiến pháp sử dụng ngôn ngữ quyền con người, các nội dung chính và cách thức thực hiện được quy định như các nghĩa vụ trong luật quốc tế về quyền con người. Liên hợp quốc cũng góp phần vào quá trình quốc tế hóa này, đặc biệt là thông qua bảy văn kiện quyền con người toàn cầu.

5. Các nguyên tắc quyền con người

Các quyền xuất phát từ bản chất phổ quát của loài người; Các quyền được ghi nhận bởi luật nhưng không bị từ chối hoặc xâm phạm bởi luật; Các quyền coi mọi con người đều được bình đẳng về nhân phẩm; Các quyền liên kết và phụ thuộc vào nhau, do đó không thể chia tách. Các văn kiện chính về quyền con người được Liên hợp quốc thông qua: Tuyên ngôn quyền con người thế giới (UDHR), 1948 (không phải là điều ước có giá trị pháp lý bắt buộc) Công ước quốc tế về việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), 1965. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), 1966. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR), 1966. Công ước về hạn chế mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), 1979. Công ước về quyền trẻ em (CRC), 1989. Công ước chống mọi hình thức tra tấn và các hình thức trừng phạt tàn bạo, phi nhân tính và đê hèn (CAT), 1984.

6. Loại quá trình

Có nhiều loại quá trình xây dựng hiến pháp được các quốc gia khác nhau sử dụng để đi đến thống nhất về nội dung cơ bản ghi nhận trong hiến pháp. Một quá trình với những cải cách dần dần có thể giúp cho các nhóm khác nhau nhận được sự thừa nhận quyền con người từ xã hội, nhưng vẫn trong khuôn khổ các nguyên tắc của hiến pháp hiện hành. Còn trong quá trình mà ở đó một nhóm chi phối áp đặt mọi điều kiện hoặc những điều kiện then chốt đối với việc xây dựng hiến pháp thì cũng nhóm đó xác định quyền con người cho các nhóm khác trong xã hội. Trong một số trường hợp, xây dựng hiến pháp là sự thỏa thuận giữa các nhóm trong cuộc xung đột không có kẻ thắng hoặc thiếu thủ lĩnh chính trị. Trong đa phần các trường hợp đó, mối quan tâm lớn nhất là về giải quyết tranh chấp và thiết lập hòa bình dẫn đến phạm vi của quyền con người. Mỗi dạng quá trình trong bối cảnh đặc thù của nó đều có hàm ý thực tế đối với những những ai được coi là “kẻ thắng” hoặc “người thua”, tùy thuộc vào việc quyền của họ được đưa vào hiến pháp hay bị bỏ qua. Đòi hỏi về sự tham gia của công chúng vào xây dựng hiến pháp ngày càng tăng cao. Trong một số trường hợp, sự tham gia của công chúng đã thúc đẩy sự đồng thuận về tầm quan trọng của các quyền và mang đến tính hợp thức cho hiến pháp. Trong các trường hợp khác, sự tham gia này bị thu hẹp theo quan điểm của nhóm đa số chi phối và tạo nên nhiều bất đồng về các bảo đảm trong hiến pháp. Ví dụ, tại El Salvador, các nhà lãnh đạo quốc gia đã cố gắng soạn thảo một hiến pháp hợp thức thể hiện văn hóa quốc gia và những quan điểm chính trị và dựa vào mong muốn của người dân, hầu hết theo Thiên chúa giáo. Đa số người dân đòi hỏi phải ghi nhận quyền-được-sống vào Hiến pháp để hình sự hóa nạn phá thai. Trên thực tế, điều khoản của Hiến pháp 1999 đã thay đổi, theo đó định nghĩa cuộc sống bắt đầu từ thời điểm thụ thai. Một số nhà lãnh đạo có thể phản đối điều khoản này nếu họ có ý định tranh cử theo Hiến pháp mới. Như vậy, hiệu quả của việc người dân tham gia còn chưa rõ ràng, phụ thuộc vào các yếu tố như ảnh hưởng của tôn giáo đến xã hội, tình hình kinh tế, nạn mù chữ, hậu quả của xung đột và lịch sử lập hiến của đất nước.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )