Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Hình sự 1999 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Bộ luật hình sự năm 2015 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2015)

2. Nội dung tư vấn

Nếu phá hoại tài sản của người khác mà vô ý làm chết một người thì có phải chịu trách nhiệm về cái chết đó không ạ ? Tại sao ạ ? Trong trường hợp đó sẽ bị xét xử như thế nào ạ ?

Đối với hành vi phá hoại tài sản của người khác thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự về nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu. Nếu hành vi phá hoại tài sản đó đủ dấu hiệu cấu thành tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác thì có thể bị xử lý theo quy định tại Điều 143 BLHS. Đối với hậu quả của hành vi này, nếu hành vi phá hoại tài sản của người khác dẫn đến hậu quả nghiệm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì hậu quả đó trở thành tình tiết định tội, định khung hình phạt. Tuy nhiên, để hậu quả của hành vi phá hoại tài sản trở thành tình tiết định tội, định khung theo quy định tại Điều 143 BLHS phải là những hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả) theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT_TANDTC_VKSNDTC_BCA_BTP:

"3. Khi áp dụng các tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" (từ Điều 133 đến Điều 140, Điều 142 và Điều 143 BLHS) cần chú ý: 
3.1. Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả). Hậu quả đó có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản hoặc hậu quả phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội)."

Như vậy, nếu người có hành vi phá hoại tài sản của người khác có đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản và hành vi này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc làm chết người thì hậu quả chết người trở thành tình tiết định khung của hình phạt của tội này theo quy định tại Điều 143 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:

"Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

c) Gây hậu qảu nghiêm trọng

d) Để che giấu tội phạm khác;

đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;

e) Tái phạm nguy hiểm;

g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Đối với trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác thì hành vi vô ý làm chết người sẽ bị xử lý về tội vô ý làm chết người. BLHS 1999 quy định:

"Điều 98. Tội vô ý làm chết người 

1. Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2. Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm."

Cho phép tôi hỏi là tôi phơi chiếu mền trên tấm vách nhà tôi thì bị ngừời ta lắy bỏ trên xe chở đi nhưng bị tôi phát hiện kịp thời và gọi lại thì người ta nói là đem vào dùm cho tôi. Vậy tôi có quyền kết luận là người ta ăn cắp chiếu mền của tôi không ? Và nếu phải là hành vi lắy cắp thì người này bị phạt bao nhiêu tiền ? Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trộm cắp được hiểu là việc sử dụng thủ đoạn lén lút dịch chuyển tài sản một cách trái ý muốn của chủ sở hữu tài tài sản. Theo đó, nếu hành vi của của người này được biểu hiện trên thực tế là lấy đồ của gia đình bạn, bỏ lên xe và chở đi mà có ý định trốn tránh chủ sở hữu, trái với ý muốn của bạn thì đó là hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại Điều 138 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, giá trị tài sản bị trộm cắp để cấu thành tội trộm cắp tài sản để bị xử lý theo quy định của pháp luật hinh sự thì phải từ 2 triệu đồng trở lên. Trong trường hợp giá trị của chiếu mền nhà bạn từ 2 triệu đồng trở lên, thì người có hành vi trộm cắp đó có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 138 BLHS. Trong trường hợp giá trị tài sản chưa đến 2 triệu đồng thì hành vi của người này có thể bị xử lý theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP tức là sẽ bị phạt tiền từ 1 triệu đến 2 triệu đồng. 

Thưa luật sư, em có 1 câu hỏi muốn hỏi luật sư thế này Đó là em là sinh viên học cao đẳng mà em bị nợ môn nên không thể ra trường, vì vậy em tính mua bằng giả để cho qua chuyện với gia đình, để gia đình em vẫn biết là em đã tốt nghiệp, ngoài ra em không dùng bằng giả với mục đích nào khác, vì vậy em muốn hỏi luật sư là em mua bằng giả như vậy có bị coi là vi phạm pháp luật không, mong luật sư giải đáp thắc mắc giúp em, em xin cảm ơn

Căn cứ theo quy định tại Điều 267 BLHS 1999, hành vi sử dụng bằng giả của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Theo đó, việc bạn mua và sử dụng bằng giả là hành vi “sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả” quy định tại Điều 267 BLHS. Tuy nhiên, điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội này là nhằm mục đích lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân. Do đó, việc bạn chỉ sử dụng bằng giả để cho qua chuyện với gia đình mà không dùng với mục đích nào khác thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Tuy nhiên, hành vi của bạn vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 138/2013/NĐ- CP:

"Điều 16. Vi phạm quy định về sử dụng và công khai thông tin cấp văn bằng, chứng chỉ

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả." Do đó, hành vi của bạn vẫn bị coi blaf hành vi vi phạm pháp luật hành chính." Do đó, hành vi của bạn vẫn bị coi là hành vi vi phạm pháp luật hành chính.

Tôi vừa nhận được bản án y sơ thẩm 2 năm 6 tháng tù tội Đưa và sử dụng thông tin trái phép trên internet tại phiên phúc thẩm nên mong luaật sư tư vấn cách nào để hõan thi hành án khi bản thân tôi là người khuyết tật nặng. Mong luật gia tư vấn gấp, xin cảm ơn.

Các trường hợp được hoãn thi hành án phạt tù được quy định tại Điều 61 BLHS:

"Điều 61. Hoãn chấp hành hình phạt tù 

1. Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:

a) Bị bệnh nặng được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;

b) Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;

c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến một năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;

d) Bị kết án về tội ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến một năm." Như vậy, trường hợp của bạn bị khuyết tật nặng thì không thuộc trường hợp được pháp luật cho phép hoãn chấp hành hình phạt tù.

Dự Án đầu tư, hàng nghìn tỉ, giờ đang đắp chiếu, càng sản xuất càng lỗ vốn, phải dừng. Thậm trí có DA, bỏ dở dưới nắng mưa hàng 3-4 năm, nguy cơ thành đống sắt vụn đã rõ ! Người ký quyết định đầu tư các DA này, có trách nhiệm, tội gì đây ?

 Việc xác định tội danh phải dựa vào nhiều yếu tố: hành vi trái pháp luật, mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả, lối, mục đích, động cơ,... chứ không thể chỉ dựa vào hậu quả đã xảy ra. Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi, người ký quyết định đầu tư các dự án dẫn đến thất thoát tài sản của Nhà nước có thể bị xử lý với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại Điều 285 BLHS hoặc cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Ngoài ra, nếu vì động cơ vụ lợi, mục đích cá nhân mà người này thực hiện các hành vi trên thì có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự về các tội tham nhũng.

Chồng tôi xử phạt 2 năm tạm giam 9 tháng, đi chấp hành án ngày 28/3/2016. Đến 25/11/2016 mới được xếp loại 2 quý là xếp loại khá. Hỏi chồng tôi có được đặc xá năm 2016 không ? 

Tính từ thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt tù cho đến hết 30/11/2016, chồng của chị mới chấp hành được 8 tháng tù, chưa được 1/3 thời gian theo bản án của tòa án. Như vậy, chồng chị tính đến ngày 30/11/2016 chưa đủ điều kiện để được xem xét đặc xá theo quy định tại Quyết định 2230/2016/QĐ-CTN về đặc xá năm 2016.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Đã xóa án tích liệu có được coi là vẫn còn tiền án, tiền sự không?