Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật lao động năm 2019.

2. Tổng quát về thay đổi trong Bộ luật lao động năm 2019

Ngày 20/11/2029 Quốc hội đã thông qua Bộ luật lao động năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Bộ Luật Lao động năm 2019 được thông qua với nhiều điểm mới, thay đổi, bổ sung quan trọng, đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong lĩnh vực lao động hiện nay. Với những sự thay đổi đó của Bộ luật lao động đã được các chuyên gia pháp luật đánh giá đã đưa khuôn khổ pháp luật tiệm cận hơn các tiêu chuẩn lao động quốc tế.

Có thể điểm tới những nội dung thay đổi quan trọng trong Bộ luật lao động năm 2019 như:

Khả năng người lao động tại doanh nghiệp được quyền thành lập hay tham gia một tổ chức đại diện do họ lựa chọn, không nhất thiết phải là thành viên của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Bộ luật lao động mở rộng phạm vi bảo vệ tới những người lao động được tuyển dụng nhưng không được ký hợp đồng lao động bằng văn bản; có những tiến bộ trong việc bổ sung định nghĩa mới về phân biệt đối xử và quấy rối; cho phép người lao động được đơn phương nghỉ việc có thông báo trước một cách phù hợp; Bộ luật lao động đã đưa ra hướng dẫn chi tiết hơn về cưỡng bức lao động và lao động chưa thành niên....

Bản thân đang là một người lao động trong doanh nghiệp sẽ nhận thấy những thay đổi của Bộ luật lao động năm 2019 nhằm bảo vệ một cách tối ưu quyền lợi của người lao động. Là một chuyên viên tư vấn pháp lý cá nhân, tôi cho rằng thay đổi trong quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động là sửa đổi quan trọng và có giá trị lớn đối với người lao động. Thay đổi này đáp ứng được đòi hỏi từ thực tiễn trong quan hệ lao động.

3. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là quyền của người lao động được ghi nhận tại điểm đ khoản 1 Điều 5 Bộ luật lao động năm 2019.

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động được quy định tại Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019 như sau:

“1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.”

Theo đó, pháp luật ghi nhận người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong hai trường hợp với điều kiện tương ứng.

+ Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do chỉ cần đáp ứng về thời gian báo trước cho người sử dụng lao động

+ Thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 sẽ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần báo trước cho người sử dụng lao động

Tổng quát có thể thấy, so với quy định trước đây thì quy định mới này về mặt câu chữ đã ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu hơn. Về mặt nội dung, đây là sửa đổi hợp lý, giải quyết được vấn đề phát sinh trong thực tiễn hiện nay, bảo vệ quyền lợi cho NLĐ hiệu quả hơn.

3.1. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cần đáp ứng thời hạn báo trước

Khoản 1 Điều 35 ghi nhận người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do và đáp ứng về thời hạn báo trước cho người lao động. Đây là quy định hợp Hiến và phù hợp với thực tiễn.

Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam đã khẳng định "Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc" (khoản 1, Điều 35). Theo đó, Hiến pháp đã đề cao quyền tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc, một trong những quyền con người quan trọng trong lĩnh vực lao động. Từ đó có thể thấy Bộ luật lao động 2019 sửa đổi về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động là theo đúng tinh thần của Hiến pháp.

Bên cạnh đó, từ thực tiễn chúng ta thấy hiện nay có rất nhiều lý do tác động đến sự gắn bó của người lao động đối với đơn vị người sử dụng lao động như: chế độ đãi ngộ, văn hóa công ty, điều kiện phát triển bản thân… Nếu một trong những vấn đề đó không được đảm bảo theo năng lực, người lao động hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là điều hợp lý và chỉ cần tuân thủ về thời gian báo trước.

Như vậy, việc quy định một cách cứng nhắc trường hợp người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Bộ luật cũ đã giới hạn quyền tự do việc làm, tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc của người lao động. Bởi đó cho nên sửa đổi trong Bộ luật lao động năm 2019 về vấn đề này là phù hợp. Quy định mới này sẽ giúp người lao động tránh được ý định gây khó dễ khi đơn phương nghỉ việc từ người sử dụng lao động. Đồng thời, sẽ hạn chế hành vi người sử dụng lao động chèn ép người lao động nghỉ việc rơi vào trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và không được hưởng quyền lợi chính đáng sau khi nghỉ việc.

Về phía người sử dụng lao động, sửa đổi này hoàn toàn đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng lao động khi Bộ luật lao động năm 2019 vẫn quy định cụ thể về thời gian báo trước đối với từng loại hợp đồng, công việc đặc thù. Đối với người sử dụng lao động, tính ổn định trong nhân sự là quan trọng, việc pháp luật quy định về thời gian báo trước sẽ đảm bảo người lao động có trách nhiệm hoàn tất công việc, để người sử dụng lao động có thời gian tuyển dụng nhân sự mới và cuối cùng là để hai bên có thời gian bàn giao công việc.

3.2. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước

Tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật lao động ghi nhận người lao động thuộc một trong các trường hợp từ điểm a) đến điểm g) thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước.

Cũng nội dung này, theo quy định của bộ luật lao động trước đây thì người lao động chỉ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi thuộc một trong các trường hợp từ điểm a đến điểm g cùng với đó sẽ phải đáp ứng điều kiện về thời gian báo trước. Có thể thấy các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm g là những trường hợp quyền lợi hợp pháp của người lao động đã, đang và sẽ bị xâm phạm, nhưng pháp luật lại quy định người lao động phải tuân thủ thời gian báo trước là không hợp lý. Quyền lợi đã bị xâm phạm nhưng để được nghỉ việc vẫn phải chịu sự xâm phạm trong một thời gian pháp luật quy định, như vậy vô hình chung đã tiếp tay cho sự vi phạm của người sử dụng lao động. Bởi vậy, quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019, người lao động sẽ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và không phải báo trước là sửa đổi rất đúng đắn.

4. Kết luận

Qua những đánh giá, phân tích chúng ta thấy được rằng, sửa đổi về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động trong Bộ luật lao động năm 2019 đã phù hợp hơn với quy định của Hiến pháp, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn và bảo vệ quyền lợi tốt hơn cho người lao động. Song bên cạnh đó, để đảm bảo hiệu quả áp dụng trong thực tiễn cần sự hướng dẫn cụ thể hơn và các biện pháp giáp sát chặt chẽ hơn từ cơ quan chức năng về việc đảm bảo thời gian báo trước. Bởi lẽ, có trường hợp người lao động muốn làm việc hết thời hạn báo trước nhưng người sử dụng lao động lại không muốn. Nếu không giám sát thực hiện hiệu quả vấn đề này sẽ xâm phạm quyền việc làm của người lao động.

Kể từ khi Bộ luật lao động năm 2019 được thông qua đến nay đã có rất nhiều bài viết liệt kê những điểm mới của Bộ luật lao động, tuy nhiên những bài viết với nội dung đánh giá tính hợp Hiến, phân tích, đánh giá chuyên sâu của những thay đổi này hiện vẫn còn rất hạn chế. Tôi hy vọng, nội dung bài viết này sẽ là nguồn thông tin pháp lý hữu ích cho bạn đọc quan tâm đến lĩnh vực lao động. Chúng tôi sẽ cập nhật thêm những bài viết bình luận, đánh giá những điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 trong thời gian sớm. Mong quý bạn đọc quan tâm theo dõi nội dung trên website https://luatminhkhue.vn để được cập nhật những thông tin pháp lý hữu ích một cách nhanh nhất!

Xin cảm ơn.

Thạc sỹ luật học Hoàng Thị Huệ - Bộ phận hỗ trợ pháp lý công ty Luật Minh Khuê

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê