Anh C có làm cho tôi một tờ giấy mua bán và hai bên ký tên rõ ràng. Sau đó khoảng một tuần tôi nhận giấy chứng nhận dăng ký xe này và chạy bình thường. Đầu năm 2016, tôi dự định bán chiếc xe này cho một người bạn khác, là anh T. Nhưng khi tôi và anh Trường cùng đi làm thủ tục sang tên, thì bên công chứng nói là giấy tờ xe của tôi là giấy tờ giả, và họ đã tịch thu đăng ký xe của tôi . Sau đó tôi có liên hệ anh C, thì anh nói xe đó là do anh trả góp nhưng chưa trả hết, nên chưa có cavet vì lúc đó cần tiền nên mới lừa gạt tôi, anh C mong hai bên sẽ giải quyết với nhau thông qua thỏa thuận , bằng cách anh C sẽ trả cho tôi 18 triệu, và tôi đưa lại xe cho anh . Tôi đồng ý, và hẹn hơn 1 tuần sau sẽ lấy tiền. Nhưng sau 1 tuần thì anh C trốn mất tích, vì gia đình anh C không có trên Sài Gòn, anh làm bảo vệ cho một công ty và ăn ở luôn tại đó, hiện tại anh ta đã nghỉ  làm. Tôi chỉ biết anh C có hộ khẩu ở nhà người dì tại Bình Thạnh, tôi có qua đó tìm nhưng họ nói là không biết và cũng không có liên lạc. Vậy bay giờ  tôi muốn đưa ra công an để truy nã anh C được không, và tôi có bị mất chiếc xe đó không?Mong hồi âm của luật sư! 

                                        Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

                                                                       Hỏi về tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

                                                                Tư vấn pháp luật về hình sự trực tuyến, gọi1900.6162

Chào bạn , Luật Minh Khuê xin cám ơn bạn đã tin tưởng và gửi hắc mắc đến công ty chúng tôi . Câu hỏi của bạn đã được chúng tôi nghiên cứu và trả lời như sau : 

 

Trả lời:

Chào bạn vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ Luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ  sung 2009 

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

Bộ luật Dân sự năm 2005

Nội dung trả lời:

căn cứ vào bộ luật dân sự 2005 : 

Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Vậy có thể khẳng định, về khía cạnh luật dân sự , hợp đồng mua bán xe máy giữa  anh và bạn mình vô hiệu do người bạn của anh đưa ra những thông tin không đúng sự thật trước khi giao kết hợp đồng mua bán xe với anh .

Tuy nhiên , giá trị của chiếc xe đã lên tới 20 triệu đồng nên người bạn của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự : 

Căn cứ vào quy định  tại Điều 139 Bộ Luật Hình sự năm 1999 có quy định như sau:

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng  đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới  hai triệu  nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Ở đây anh C đã đưa ra  thông tin giả : một là  về việc chiếc xe đứng tên anh C trong khi anh C chưa đăng ký chiếc xe này. Hai là , anh C làm chứng nhận đăng ký xe giả đưa cho bạn , vậy có thể khẳng định ở đây anh C đã có hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bạn . Mặt khác , Anh C lại đưa ra phương án  thỏa thuận về việc hoàn trả lại taì sản cho nhau với hợp đồng mua bán vô hiệu  sau khi bạn trao trả chiếc  xe máy đó ,anh ta lại  bỏ trốn để không phải trả lại tài sản  , điều này cho thấy anh C cố ý thực hiện tội phạm đến cùng .

Hơn nữa , hành vi làm giả đang ký xe của anh C cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tôi làm giả con dấu , tài liệu của các cơ quan tổ chức  theo điều 267 BLHS 

Điều 267. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

>> Xem thêm:  Làm giấy vay tiền viết tay có hợp pháp không?

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

A) Có tổ chức;

B) Phạm tội nhiều lần;

C) Gây hậu quả nghiêm trọng;

D) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bốn năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.”

Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

>> Xem thêm:  Đòi lại tiền đặt cọc sao cho đúng ?

A) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

B) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

C) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

D) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

Đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

E) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

G) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

H) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

I) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

K) Phạm tội do lạc hậu;

>> Xem thêm:  Trường hợp nào bị truy tố hình sự ?

L) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

M) Người phạm tội là người già;

N) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

O) Người phạm tội tự thú;

P) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

Q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

R) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

S) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

>> Xem thêm:  Có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?

Vậy bạn có thể gửi đơn yêu cầu khởi tố vụ án  lên cơ quan công an cấp huyện về hành vi này của anh C để cơ quan công an điều tra và khởi tố anh C về  các tội danh nêu trên . Sau khi vụ án được tòa án xét xử thì bạn sẽ được tuyên trả lại tài sản mà bạn bị anh C lừa . 

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự.

>> Xem thêm:  Nên làm gì khi hết thời hạn thuê xe mà bên thuê không trả ?