I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI 

1. Khái niệm:

- Định nghĩa: Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự là các biện pháp do pháp luật quy định và được Tòa án áp dụng để tạm thời giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản, bảo đảm thi hành án, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án dân sự.

    Khái niệm áp dụng các BPKCTT: “Áp dụng các BPKCTT là việc Thẩm phán hay HĐXX xét các điều kiện luật định về BPKCTT (điều kiện về nội dung, hình thức) để quyết định áp dụng một hoặc nhiều BPKCTT hoặc ra quyết định sửa đổi, thay thế BPKCTT đã được áp dụng bằng BPKCTT khác.”

2. Đặc điểm:

   Áp dụng các BPKCTT là hoạt động áp dụng pháp luật, chính vì thế nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm của một hoạt động áp dụng pháp luật như: mang tính quyền lực nhà nước; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện; phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định; mang tính cá biệt, cụ thể đòi hỏi tính sáng tạo. Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, áp dụng các BPKCTT cũng mang những đặc điểm riêng biệt.

*Nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự

- Việc áp dụng các BPKCTT chủ yếu được thực hiện trên cơ sở quyền tự định đoạt của đương sự

    Quyền tự định đoạt của đương sự là quyền của đương sự trong việc tự quyết định về quyền, lợi ích của họ và lựa chọn biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích đó. Như vậy, khi nhận thấy quyền, lợi ích của đương sự bị người khác xâm phạm, cần thiết phải được Tòa án can thiệp, bảo vệ ngay thì đương sự hoặc những người có quyền yêu cầu theo luật định có quyền tự quyết định làm đơn hay không làm đơn yêu cầu Tòa án áp dụng các BPKCTT. Theo quy định của BLTTDS, Tòa án có thể ra quyết định áp dụng các BPKCTT trên cơ sở có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng các BPKCTT của các chủ thể có quyền. Từ đó phân biệt áp dụng các BPKCTT với các hoạt động áp dụng pháp luật khác.

Ngoài ra, đối với một số biện pháp nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của đương sự như yêu cầu cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng… Tòa án có quyền chủ động áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không cần có đơn yêu cầu của đương sự. Với mục đích nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ kịp thời quyền lợi của người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc người yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Tòa án rất ít khi tự ra quyết định áp dụng các BPKCTT, chủ yếu việc ra quyết định áp dụng các BPKCTT là dựa trên yêu cầu của đương sự. Hình thành từ nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, Tòa án sẽ ra quyết định áp dụng các BPKCTT nếu xét thấy yêu cầu của đương sự là có căn cứ và cần thiết. Ngoài ra, Tòa án còn ra quyết định thay đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ BPKCTT nếu thấy biện pháp đang được áp dụng là không phù hợp hoặc không còn cần thiết.

   Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong pháp luật Việt Nam rất đa dạng, bao gồm nhiều loại biện pháp khác nhau, mỗi biện pháp được áp dụng nhằm một mục đích nhất định, có biện pháp nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự (buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng, buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại…), có biện pháp nhằm bảo toàn tài sản (kê biên tài sản, cấm chuyển dịch quyền về tài sản…), có biện pháp nhằm giải quyết vụ án và đảm bảo thi hành án dân sự (cấm hoặc buộc đương sự thực hiện nhữnh hành vi nhất định…). Mặc dù mỗi biện pháp khẩn cấp tạm thời khác nhau, được áp dụng tương ứng với mỗi vụ án có tính chất khác nhau, nhằm mục đích khác nhau, được áp dụng tương ứng với mỗi vụ án có tính chất khác nhau, nhằm mục đích khác nhau, nhưng vẫn hướng tới đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ kịp thời quyền lợi của người có yêu cầu áp dụng biện pháp tạm thời hoặc người yếu thế.

- Chủ thể thực hiện hoạt động áp dụng các BPKCTT là Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử

Áp dụng các BPKCTT là hoạt động áp dụng pháp luật nên phải tuân theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Theo pháp luật hiện hành, chỉ có Thẩm phán hoặc HĐXX được quyền áp dụng các BPKCTT trong quá trình giải quyết các VADS tại Tòa án. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật. Do đó, việc áp dụng các BPKCTT trong giải quyết VADS do Thẩm phán tiến hành mới đảm bảo được tính đúng đắn và tuân thủ các quy trình của pháp luật TTDS. Nếu vụ án đã được đưa ra xét xử tại phiên tòa thì các vấn đề phát sinh trong đó có việc xem xxét, ra quyết định áp dụng các BPKCTT sẽ do HĐXX thực hiện.

- Mục đích của việc áp dụng các BPKCTT là nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ kịp thời quyền lợi của người có yêu cầu áp dụng các BPKCTT

BPKCTT trong TTDS được quy định rất đa dạng, bao gồm nhiều loại biện pháp khác nhau, mỗi biện pháp được áp dụng nhằm một mục đích nhất định như để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự (biện pháp buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại…), để bảo toàn tài sản (biện pháp kê biên tài sản; cấm chuyển dịch quyền về tài sản…), để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án và đảm bảo thi hành án dân sự (biện pháp cấm hoặc buộc đương sự thực hiện những hành vi nhất định). Mỗi biện pháp khẩn cấp tạm thời khác nhau được áp dụng trong những vụ án có tính chất khác nhau, nhưng vẫn đảm bảo mục đích cuối cùng đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ kịp thời quyền lọi của người đó khi có yêu cầu áp dụng các BPKCTT

* Nguyên tắc nhanh chóng, kịp thời

- Việc áp dụng các BPKCTT phải được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, trong một số trường hợp cần thiết phải tiến hành bí mật, bất ngờ.

     Nếu các BPKCTT được áp dụng không đảm bảo được yếu tố nhanh chóng, kịp thời, thì tính mạng, sức khỏe, tài sản… của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ không được bảo đảm và trong nhiều trường hợp người bị yêu cầu áp dụng sẽ tẩu tán, hủy hoại tài sản…. Bên cạnh đó, việc áp dụng sẽ tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của bên bị áp dụng nên ngoài việc áp dụng BPKCTT đảm bảo nhanh chóng, kịp thời trong quá trình áp dụng còn phải bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ và có hiệu quả.

Theo đó, muốn áp dụng các BPKCTT được nhanh chóng, Tòa án cần chú ý: cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho những chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các BPKCTT được nộp đơn yêu cầu áp dụng kể cả khi chưa thụ lý vụ án. Thông thường, các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các BPKCTT sau khi đã khởi kiện và vụ án đó đã được Tòa án thụ lý. Về nguyên tắc, Tòa án cũng chỉ can thiệp để bảo vệ quyền, lợi ích cho các chủ thể khi VADS đã được yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, việc yêu cầu Tòa án áp dụng các BPKCTT là việc làm mang tính cấp bách nên Khoản 2 Điều 111 BLTTDS đã quy định theo hướng khi cần thiết, thời điểm sớm nhất cho phép các chủ thể yêu cầu Tòa án áp dụng các BPKCTT là thời điểm cùng với hành vi nộp đơn khởi kiện, tức là chưa thụ lý VADS. Phù hợp với tính khẩn cấp của BPKCTT, khi có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng các BPKCTT, thủ tục nhận đơn cũng phải quy định một cách đơn giản và với thời gian ngắn nhất. Tòa án phải quyết định được có chấp nhận hay không chấp nhận đơn yêu cầu áp dụng các BPKCTT của người yêu cầu. Việc áp dụng nhanh chóng BPKCTT trong TTDS được mở đầu bằng việc Tòa án nhanh chóng ra quyết định áp dụng các BPKCTT. Việc chậm trễ trong việc ra quyết định áp dụng các BPKCTT sẽ có thể dẫn đến trường hợp không thể bảo vệ được quyền, lợi ích của đương sự. Quyết định áp dụng các BPKCTT ngay sau khi được ban hành phải nhanh chóng được thi hành, bởi quyết định áp dụng các BPKCTT của Tòa án là quyết định có hiệu lực ngay sau khi ban hành. Để đáp ứng sự khẩn cấp, quyết định này cần được tổ chức thực hiện càng nhanh càng tốt. Chỉ khi đảm bảo các yêu cầu đó quyền, lợi ích của đương sự mới được kịp thời được bảo vệ.

* Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích của các bên đương sự và người liên quan

- Việc áp dụng các BPKCTT bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đương sự trong vụ án

    Việc áp dụng các BPKCTT của Tòa án không phải để bảo vệ duy nhất quyền, lợi ích của một bên đương sự trong VADS mà cũng cần phải đảm bảo quyền, lợi sich của những chủ thể khác không phải là đương sự nhưng có liên quan đến việc áp dụng các BPKCTT. Vì vậy, việc áp dụng là việc giải quyết theo yêu cầu của bên đương sự có yêu cầu nhưng đồng thời phải xem xét, bảo vệ cả quyền, lợi ích của bên bị yêu cầu áp dụng các BPKCTT và những người có liên quan. Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS giữa các đương sự, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của tất cả các đương sự trong VADS, pháp luật hiện hành ngoài việc quy định về quyền yêu cầu áp dụng các BPKCTT cho các đương sự còn có các quy định nhằm ràng buộc trách nhiệm của Tòa án, người yêu cầu trong trường hợp áp dụng BPKCTT không đúng hoặc ngăn chặn sự lạm quyền yêu cầu áp dụng của đương sự như quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm; quy định về trách nhiệm do việc áp dụng các BPKCTT không đúng; khiếu nại, kiến nghị liên quan đến việc áp dụng các BPKCTT…BLTTDS quy định biện pháp để bảo vệ quyền, lợi ích của người bị áp dụng các BPKCTT là buộc người yêu cầu Tòa án áp dụng các BPKCTT phải thực hiện nghĩa vụ đảm bảo (nộp một giá trị tài sản nhất định tương ứng để trong trường hợp nhận thấy việc yêu cầu áp dụng các BPKCTT là không đúng thì sẽ phải bồi thường cho người bị áp dụng các BPKCTT. Vì vậy, sau khi nhận đơn yêu cầu áp dụng các BPKCTT thì Tòa án yêu cầu người có yêu cầu áp dụng các BPKCTT phải nộp tiền để bảo đảm cho yêu cầu đó. (Điều 136 BLTTDS)

   Ngoài quy định về biện pháp bảo đảm, về nghĩa vụ bồi thường, pháp luật còn ghi nhận các chủ thể có quyền được thực hiện hành vi khiếu nại, kiến nghị về việc áp dụng các BPKCTT. Quy định về khiếu nại, kiến nghị được xem là quy định cần thiết nhằm làm cho hoạt động giải quyết VADS được đúng đắn. Theo đó, đối với người liên quan đến việc áp dụng các BPKCTT, khi Tòa án quyết định áp dụng các BPKCTT cần chú ý bảo đảm quyền, lợi ích cho những người đó bởi mặc dù không phải là đương sự trong VADS nhưng rất có thể việc áp dụng các BPKCTT lại làm cho quyền, lợi ích của những người có liên quan bị ảnh hưởng.

3. Ý nghĩa

Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có vai trò rất quan trọng, có tác dụng rút ngắn thời gian tố tụng, giúp vụ án được giải quyết nhanh chóng, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, hoạt động áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cũng như những người làm công tác pháp luật.

- Áp dụng các BPKCTT góp phần giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự

- Áp dụng các BPKCTT góp phần bảo toàn tài sản, bảo đảm khả năng thi hành án dân sự

- Áp dụng các BPKCTT tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án.

4. Thực tiễn áp dụng 

    Thứ nhất, về việc chậm hoặc không ra quyết định áp dụng BPKCTT cần thiết Xét về lí luận, BPKCTT có tính trái ngược với đòi hỏi của toà án. Trong khi yêu cầu của toà án là phải làm việc thận trọng, khách quan, lắng nghe ý kiến từ hai phía thì việc áp dụng các BPKCTT lại đòi hỏi cần có sự nhanh chóng và khẩn cấp. Việc áp dụng các BPKCTT sẽ ngăn ngừa thiệt hại có thể xảy ra trên thực tế. Theo quy định của BLTTDS người có yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Theo quy định tại khoản 3 Điều 117 BLTTDS, thời hạn để nghiên cứu đơn yêu cầu là 2 ngày (48 giờ) kể cả ngày nghỉ và ngày lễ. Hết thời hạn này, thẩm phán buộc phải quyết định có hay không việc áp dụng các BPKCTT. Do yêu cầu về tính thận trọng trong công tác nên các thẩm phán thực tế đều có xu hướng kiểm tra lại tính xác thực của các chứng cứ mà bên yêu cầu đã xuất trình vì nhiều biện pháp cần thiết phải xác định được chính xác tình trạng, giá trị của tài sản hoặc tài khoản của người bị yêu cầu, nếu không, quyết định áp dụng các BPKCTT rất dễ xảy ra tình trạng không thực hiện được hoặc bị huỷ bỏ vì áp dụng không chính xác. Trong điều kiện tố tụng hiện nay, việc xác thực các chứng cứ của thẩm phán gặp rất nhiều khó khăn nên yêu cầu áp dụng các BPKCTT hoặc là bị từ chối hoặc phải kéo dài thời gian để thực hiện công việc xác minh dẫn đến hệ quả là việc áp dụng các BPKCTT mất đi tính cấp bách của nó. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 119 BLTTDS thì thẩm phán hoặc HĐXX tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự quyết định áp dụng các BPKCTT trong trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 102 BLTTDS. Thực tiễn hiện nay cho thấy, nhiều thẩm phán và HĐXX có tâm lí ngại quyết định áp dụng các BPKCTT trong các trường hợp pháp luật quy định cho toà án có quyền “tự mình áp dụng” BPKCTT. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do có sự lo ngại trách nhiệm bồi thường từ phía toà án nếu áp dụng không đúng. Do vậy, hầu như các vụ án có áp dụng các BPKCTT trên thực tế đều là do có đơn yêu cầu của đương sự. Từ tâm lí ngại áp dụng các BPKCTT và sự thận trọng trong công tác của các thẩm phán mà hiện nay trên thực tế, tại nhiều địa phương các thẩm phán không ra các quyết định áp dụng BPKCTT mà thay vào đó là sử dụng hình thức công văn có nội dung của quyết định áp dụng các BPKCTT để yêu cầu các cơ quan liên quan tiến hành biện pháp cấm chuyển dịch hoặc phong toả tài sản của đương sự có nghĩa vụ. Thêm vào đó, thực tế xét xử cũng có những hiện tượng khi đương sự có đơn yêu cầu áp dụng các BPKCTT thì thẩm phán giải quyết vụ việc tìm cách khuyên họ không nên yêu cầu hoặc rút đơn yêu cầu để tránh việc phải ra quyết định áp dụng các BPKCTT.

    Thứ hai, việc áp dụng các BPKCTT trên thực tế chưa được thực hiện nhiều, số vụ án có áp dụng các BPKCTT còn chiếm tỉ lệ nhỏ, số lượng yêu cầu áp dụng các BPKCTT được toà án chấp nhận không lớn.Qua khảo sát thực tiễn cho thấy trong những năm gần đây số lượng các vụ án dân sự được toà án áp dụng các BPKCTT tuy có tăng nhưng so với tổng số vụ án được thụ lí, giải quyết thì số vụ án có áp dụng các BPKCTT vẫn chiếm tỉ lệ nhỏ.

Thứ ba, vẫn tồn tại tình trạng áp dụng các BPKCTT không đúng với yêu cầu của người yêu cầu Theo quy định của BLTTDS, toà án ra quyết định áp dụng các BPKCTT trên cơ sở đơn yêu cầu của đương sự. Nếu toà án áp dụng các BPKCTT không đúng với yêu cầu của đương sự (áp dụng BPKCTT khác với BPKCTT mà đương sự yêu cầu hoặc áp dụng BPKCTT vượt quá yêu cầu của đương sự) mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba thì phải bồi thường. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, vẫn có những trường hợp toà án áp dụng các BPKCTT không đúng với yêu cầu của đương sự như nhận định của Toà án nhân dân tối cao: “Có toà án chưa xem xét đầy đủ yêu cầu của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, dẫn tới giải quyết không đủ hoặc vượt quá yêu cầu của đương sự”.

Thứ tư, một số quy định của pháp luật hiện hành về BPKCTT còn chưa thực sự phù hợp với thực tiễn Hiện nay một số quy định của BLTTDS hiện hành về các BPKCTT còn chưa thực sự phù hợp, chưa phát huy được hết vai trò trong đời sống xã hội. Nói cách khác, “các quy định về BPKCTT của chúng ta hiện nay tuy đã có nhiều sửa đổi nhưng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu về tính linh hoạt và có hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi của đương sự”. (5) Có thể kể đến một số quy định còn chưa phù hợp như quy định về thời điểm yêu cầu áp dụng các BPKCTT, về thời hạn ra quyết định áp dụng các BPKCTT, thủ tục thực hiện biện pháp bảo đảm còn cứng nhắc, chưa có hướng dẫn rõ ràng về việc xử lí quyết định áp dụng các BPKCTT sau khi đã được tòa án áp dụng:

- Quy định về thời điểm yêu cầu áp dụng các BPKCTT: QCụ thể, thời hạn 48 giờ để thẩm phán xem xét quyết định có áp dụng các BPKCTT hay không trong nhiều trường hợp là quá dài, đặc biệt là đối với các yêu cầu về áp dụng các BPKCTT như kê biên tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, phong toả tài khoản. Nếu chậm trễ ra quyết định trong những trường hợp trên thì quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì với trình độ phát triển của khoa học kĩ thuật hiện nay, chỉ trong thời gian vài chục giây người bị yêu cầu cũng đã kịp tẩu tán tài sản, thay đổi hiện trạng tài sản hoặc rút tiền từ tài khoản để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ. Trong khi đó, tại Điều 101 BLTTDS, nhà làm luật lại không quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có thẩm quyền quyết định áp dụng các BPKCTT trong trường hợp chậm trễ áp dụng gây thiệt hại cho nguyên đơn.

- Quy định về việc xử lí quyết định áp dụng các BPKCTT sau khi đã được toà án áp dụng: Việc xử lí quyết định áp dụng các BPKCTT sau khi đã được toà án quyết định áp dụng trên thực tế đang có nhiều cách hiểu và cách áp dụng pháp luật khác nhau: Có trường hợp khi ra bản án, toà án tuyên tiếp tục giữ nguyên quyết định áp dụng các BPKCTT ngay trong bản án sơ thẩm nhưng lại quyết định trả lại số tiền thực hiện biện pháp bảo đảm cho đương sự; có trường hợp toà án tuyên trong bản án sơ thẩm quyết định áp dụng các BPKCTT hết liệu lực pháp luật đồng thời trả lại số tiền thực hiện biện pháp bảo đảm cho đương sự khi bản án có hiệu lực pháp luật; có trường hợp toà án tuyên trong bản án sơ thẩm quyết định áp dụng các BPKCTT hết hiệu lực khi bên có nghĩa vụ thực hiện xong nghĩa vụ đối với bên có quyền và quyết định trả lại tiền thực hiện biện pháp bảo đảm cho đương sự khi bản án có hiệu lực pháp luật. (7) Thực tiễn, trong trường hợp toà án quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ BPKCTT ngay trong bản án sơ thẩm, nếu đương sự kháng cáo toàn bộ bản án thì đương nhiên quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ BPKCTT cũng sẽ bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, mặc dù theo quy định tại Điều 123, Điều 124 BLTTDS quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ BPKCTT có hiệu lực thi hành ngay và đương sự chỉ có quyền khiếu nại, viện kiểm sát chỉ có quyền kiến nghị đối với quyết định này. Chính vì sự không nhất quán giữa các quy định pháp luật trong việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ BPKCTT đã dẫn đến nhiều vụ án, đương sự chỉ kháng cáo bản án với lí do không đồng ý với quyết định giữ nguyên hay huỷ bỏ quyết định áp dụng các BPKCTT hoặc không đồng ý với việc toà án tiếp tục giữ nguyên quyết định áp dụng các BPKCTT nhưng lại ghi trong bản án trả lại cho đương sự tiền bảo đảm nên đã gây nhiều khó khăn cho toà án trong việc giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, vì luật không quy định cho phép đương sự kháng cáo hoặc viện kiểm sát kháng nghị đối với quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ BPKCTT. (8) Thứ năm, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa toà án và các cơ quan, tổ chức khác trong quá trình áp dụng các BPKCTT Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự cho thấy, việc áp dụng một số BPKCTT không chỉ phụ thuộc vào ý chí của toà án mà còn đòi hỏi phải có sự phối hợp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác. Điển hình như đối với biện pháp phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặc kho bạc nhà nước thì khi quyết định áp dụng các BPKCTT được ban hành người phải thi hành quyết định này chính là ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc kho bạc nhà nước. Mặc dù vậy, do đặc tính nghề nghiệp, đây là các đơn vị kinh doanh nên để giữ quan hệ, giữ uy tín với khách hàng, phía ngân hàng có thể tiết lộ các thông tin liên quan đến BPKCTT được áp dụng. Điều này dẫn đến thực trạng quyết định áp dụng các BPKCTT chưa được thi hành thì người bị áp dụng các BPKCTT đã thực hiện xong việc rút tiền ra khỏi tài khoản. Như vậy, cần thiết phải có những quy định để nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong quá trình áp dụng các BPKCTT.