1. Khái niệm thương lượng

Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh nói chung bằng thương lượng đàm phán - đây chính là sự thể hiện quyền tự do thỏa thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp. Quá trình thương lượng đàm phán trong kinh doanh để giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và kết hợp thương lượng trực tiếp với thương lượng gián tiếp.

Thương lượng hình các hình thức giải quyết khi có tranh chấp giữa các bên xảy ra, chủ yếu được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế. Thay bằng việc nhờ đến sự can thiệp của bên thứ ba như Tòa án hay Trọng tài, thì các bên xảy ra tranh chấp sẽ cùng nhau tự thỏa thuận, bàn bạc để giải quyết các vấn đề đang gặp tranh chấp. Đây là phương thực được thực hiện chủ yếu dựa vào sự tự nguyện, thiện chí của các bên, không bị ép buộc bởi bất cứ điều gì.

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông dụng và phổ biến nhất được các bên tranh chấp áp dụng rộng rãi để giải quyết mọi tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, nhất là trong hoạt động thương mại.

Phương thức giải quyết tranh chấp này thường được giới thương nhân lựa chọn mỗi khi có tranh chấp phát sinh, bởi sự đơn giản của phương thức thực hiện, ít tốn kém, lại không bị ràng buộc bởi những thủ tục pháp lý phức tạp, uy tín cũng như bí mật trong kinh doanh được bảo đảm tối đa và mức độ phương hại đến mối quan hệ hợp tác giữa các bên cũng thấp, thậm chí còn tăng cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau sau khi thương lượng thành công.

=> Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kì bên thứ ba nào.

Qua khái niệm trên, thương lượng có thể có những đặc điểm dưới đây.

- Về phương thức giải quyết tranh chấp thương lượng được thực hiện bởi cơ chế giải quyết nội bộ (cơ chế tự giải quyết) thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba để trợ giúp hay ra phán quyết.

- Về quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộc của bất kì nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp.

Theo Pháp luật của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại (Điều 14 luật đầu tư năm 2014, luật đầu tư năm 2020, Điều 317 Luật Thương mại năm 2005) mà không có bất kì quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng.

- Về việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức thương lượng là sự thể hiện quyền tự do thỏa thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp. Các bên tự đề xuất các giải pháp và thỏa hiệp với nhau theo trình tự, thủ tục tự chọn để giải quyết các bất đồng phát sinh mà không có sự tham gia hay can thiệp của bất kì cơ quan nhà nước nào. Việc thương lượng có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức như: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và kết hợp cả hai cách thức trên.

 

2. Ưu - nhược điểm của phương thức thương lượng

a. Ưu điểm của phương thức thương lượng

Ưu điểm nổi bật của phương thức thương lượng trong giải quyết tranh chấp nói chung là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém, không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp. Mặt khác, còn bảo vệ được uy tín cho các bên tranh chấp cũng như bí mật trong kinh doanh của các nhà kinh doanh.

Các nhà kinh doanh hơn ai biết bảo vệ quyền lợi của mình, hiểu rõ những bất đồng và nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên quá trình đàm phán, thỏa thuận dễ hiểu và cảm thông với nhau hơn để có thể thỏa thuận được các giải pháp tối ưu theo đúng nguyện vọng của mỗi bên mà không phải cơ quan tài phán nào cũng có thể làm được.

Bởi vậy, nếu thương lượng thành công không những các bên loại bỏ được những bất đồng đã phát sinh mà mức độ phương hại đến mối quan hệ kinh doanh giữa các bên cũng thấp, tăng cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau trong tương lai.

b. Nhược điểm của phương thức thương lượng

Nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng đó là thương lượng thành công hay không hoàn toàn phục thuộc vào sự hiểu biết và thái độ thiện chí, hợp tác của các bên tranh chấp.

Khi một hoặc các bên tranh chấp thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực và vấn đề đang tranh chấp, không nhận thức được vị thế của mình về khả năng thắng thua nếu phải theo đuổi vụ kiện tại cơ quan tài phán hoặc không có thái độ nổ lực hợp tác, thiếu sự thiện chí trung thực trong quá trình thương lượng thì khả năng thành công là rất mong manh, kết quả thương lượng thường bế tắc. Ngoài ra, kết quả thương lượng lại không được đảm bảo bằng cơ chế pháp lý mang tính bắt buộc.

Do đó, dù các bên có đạt được thỏa thuận để giải quyết vụ tranh chấp thì việc thực thi kết quả thương lượng vẫn phụ thuộc vào sự tự nguyện của bên phải thi hành. Nếu một bên không tự nguyện thi hành thì kết quả thương lượng cũng chỉ tồn tài trên giấy mà không có một cơ chế pháp lý trực tiếp nào bắt buộc thi hành đối với kết quả thương lượng của các bên.

Những hạn chế trên của thương lượng dễ bị lạm dụng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại. Nhiều trường hợp vì thiếu sự thiện chí, hợp tác trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp mà một bên đã tìm mọi cách trì hoãn quá trình thương lượng nhằm kéo dài vụ tranh chấp, nhất là khi thời hiệu khởi kiện không còn nhiều.

 

3. Phương thức tham vấn, thương lượng

ISDS bằng phương thức tham vấn, thương lượng luôn là biện pháp ưu tiên theo các điều ưóc quốc tế về đầu tư. Trong số 3.340 điều ước quốc tế về đầu tư đã được ký kết giữa các quôc gia tính đến ngày 01/12/2018, hầu hết đều có quy định phương thức tham vấn, thương lượng. Tham vấn, thương lượng được các điều ưóc quôc tê về đầu tư quy định là biện pháp thực hiện đầu tiên khi xuất hiện tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nưóc. Đây là giai đoạn làm giảm “căng thẳng, hạ nhiệt” (cooling-off period) mâu thuẫn để có thể giải quyết một cách “hòa bình” nhất một vụ việc ISDS.

Ở một số điều ước quốc tế về đầu tư ký vào thập niên 90 thế kỷ XX, thời hạn tham vấn, thương lượng giữa hai bên không được quy định cụ thể mà chỉ theo hướng là trường hợp không thể thương lượng được, thì đưa vụ việc ra cơ quan tài phán (có thể là cơ quan tư pháp của quốc gia nhận đầu tư hoặc trọng tài quốc tế).

Ví dụ: BIT giữa Hoa Kỳ và Áchentina ký năm 1991 (có hiệu lực năm 1994), BIT giữa Ôxtrâylia và Áchentina ký năm 1995 (có hiệu lực năm 1997).

Đối với các điều ước quốc tế về đầu tư được ký sau năm 2001, thời hạn tham vấn, thương lượng được quy định khá cụ thể, thường là 03 hoặc 06 tháng.

Ví dụ: Hiệp định đầu tư song phương giữa Hoa Kỳ và Adécbaidan năm 2001 quy định thời hạn tham vấn, thương lượng là 03 tháng kể từ khi xuất hiện tranh chấp; Hiệp định đầu tư song phương giữa Nam Phi với Cônggô năm 2004, thời hạn này là 06 tháng từ khi xuất hiện tranh chấp; BIT giữa Hoa Kỳ với Urugoay quy định thời hạn thương lượng, đàm phán là 90 ngày trước khi đưa vụ việc ra cơ quan tài phán.

Thông thường tham vấn, thương lượng bắt đầu khi có yêu cầu bằng văn bản về việc này của nhà đầu tư nước ngoài, về lý thuyết, yêu cầu thương lượng, đàm phán có thể được thể hiện bằng một văn bản riêng hoặc trong thông báo ý định khỏi kiện nhà nưốc của nhà đầu tư nưốc ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết yêu cầu tham vấn, thương lượng của nhà đầu tư được thể hiện trong thông báo ý định khởi kiện nhà nước của nhà đầu tư nước ngoài.

 

4. Mục đích của thương lượng, đàm phán

Phương thức thương lượng, đàm phán giữa các bên có những mục đích sau:

- Vì thương lương là biện pháp được áp dụng khi có các tranh chấp xảy ra nên mục đích quan trọng nhất của thương lượng đó chính là giải quyết được tranh chấp đang xảy ra giữa các bên

- Việc sử dụng biện pháp thương lượng thể hiện được việc các bên chủ thể đang xảy ra tranh chấp đều có thiện chí giải quyết trong hòa bình, không muốn vấn đề phát sinh phức tạp.

- Thương lượng giúp cho các bên xảy ra tranh chấp được trình bày các quan điểm, suy nghĩ của mình, đưa ra được những mong muốn, yêu cầu, phương hướng giải quyết vấn đề.

- Việc dùng biện pháp thương lượng để giải quyết tranh chấp còn giúp cho tranh chấp được giải quyết mà không làm ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác sau này của các chủ thể.

+ Thương lượng nhằm dẫn đến mục đích chính là các bên đều thống nhất ý chí đối với các biện pháp được đưa ra để giải quyết vấn đề;

+ Xây dựng mối quan hệ hợp tác hài hòa, thiện chí.

 

5. Vai trò của phương thức đàm phán, thương lượng

Vai trò quan trọng nhất của phương thức đàm phán, thương lượng trong tranh chấp nói chung và trong tranh chấp đầu tư nói riêng chính là giúp giải quyết được tranh chấp mà không cần sự can thiệp của của Tòa án hay các cơ quan giải quyết tranh chấp khác theo quy định của pháp luật;

Giúp giải quyết được tranh chấp mà không làm ảnh hưởng đến uy tín khả năng học tác sau này của các bên tranh chấp; Giúp cho các bên thể hiện được ý kiến của tổ chức mình.

Phương thức đàm phán, thương lượng giúp cho các bên đều bảo được sự công bằng trong việc thực hiện quyền và lợi ích của mình, tránh tình trạng xảy ra “bất công”, phải phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của bên chủ thể còn lại;

Mặc dù phương thức đàm phán, thương lượng có vai trò và những ưu điểm không thể phủ nhận được, nhưng nó vẫn luôn tồn tại nhiều điểm hạn chế khiến cho biện pháp này chỉ có thể được áp dụng cho các tranh chấp có giá trị nhỏ.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).