- 1. Nâng cao nhận thức tầm quan trọng công tác phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế
- 2. Hình thành chiến lược về bảo hộ đầu tư và hoàn thiện các cam kết đẩu tư trong thời kỳ hội nhập sâu
- 3. Hoàn thiện pháp luật trong nước
- 4. Cải thiện việc thực thi pháp luật về đầu tư nước ngoài, nhất là ở cấp địa phương
- - Lựa chọn, thẩm định năng lực của nhà đầu tư nước ngoài
- - Giám sát chặt chẽ việc triển khai dự án đầu tư nước ngoài
- - Phát hiện, xử lý sớm bất đồng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước
- 5. Nâng cao năng lực thực thi pháp luật về đầu tư nước ngoài cho các cơ quan quản lý nhà nước
- 6. Lập cơ chế phối hợp để theo dõi, giám sát việc triển khai thực hiện Công ước Niu Oóc năm 1958
- 7. Hình thành cơ quan đầu mối và mạng lưới các cơ quan có nhiệm vụ phòng ngừa tranh chấp đẩu tư quốc tế
- 8. Phổ biến, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận dễ dàng quy định pháp luật đầu tư
1. Nâng cao nhận thức tầm quan trọng công tác phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế
Cụ thể là nâng cao nhận thức tầm quan trọng công tác phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế trong các cơ quan nhà nước.
Nhận thức về công tác phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Việt Nam cần được thống nhất, thông suốt từ các cơ quan nhà nước ở Trung ương đến các cấp chính quyền ở địa phương. Trong việc tuyên truyền này, trách nhiệm chính thuộc về các cơ quan quản lý về đầu tư nước ngoài ở Trung ương, địa phương. Phương thức tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phòng ngừa có thể thông qua tập huấn, tài liệu phổ biến của ngành hoặc trao đổi, kết nôì, công khai những thông tin liên quan đến công tác này để có nhận thức chung về mức độ ảnh hưởng của loại tranh chấp này đến đầu tư nước ngoài cũng như các thiệt hại vật chất kèm theo. Theo đó, các vụ việc tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Việt Nam đã giải quyết xong cần “phân tầng” các tài liệu liên quan để giải mật, nhằm phổ biến trong nội bộ các cơ quan nhà nước để tham khảo.
2. Hình thành chiến lược về bảo hộ đầu tư và hoàn thiện các cam kết đẩu tư trong thời kỳ hội nhập sâu
Thời kỳ trước đây, trong bối cảnh kêu gọi đầu tư nước ngoài mạnh mẽ vào Việt Nam cũng như thế giới chưa hình thành các tiêu chuẩn mối liên quan đến đầu tư nước ngoài. Do đó, các BIT mà Việt Nam là thành viên thường có tiêu chuẩn bảo hộ cao đối với nhà đầu tư nước ngoài. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dễ làm phát sinh tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Việt Nam. Trong thời gian tới, căn cứ vào thực tế trong nước trước yêu cầu làm lành mạnh hóa môi trường đầu tư kinh doanh, Việt Nam cần xây dựng chiến lược cụ thể về bảo hộ đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới phù hợp thực tiễn Việt Nam để làm cơ sở xây dựng các cam kết, thỏa thuận đầu tư nước ngoài; đồng thời, làm căn cứ hoàn thiện pháp luật trong nước về vấn đề này.
Như đã đề cập ở phần trên, do cam kết quốc tế của Việt Nam về đầu tư, trong đó có cam kết về ISDS hiện chưa thống nhất ở các điều ước quốc tế về đầu tư, nhiều điều ước quốc tế về đầu tư ký trước đây có quy định rộng về phạm vi ISDS, trong khi các quy định về bảo hộ đầu tư lại thiên lệch theo hướng có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, gây bất lợi cho Việt Nam. Do đó, cần rà soát tổng thể các cam kết về đầu tư, để đàm phán sửa đổi theo hướng bảo đảm cân bằng lợi ích giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Việt Nam.
Liên quan đến thiết lập các cam kết quốc tế về đầu tư mới của Việt Nam cần tham khảo các mẫu về loại điểu ước này của một số quốc gia để chọn lọc những điều khoản phù hợp áp dụng với Việt Nam, ví dụ: giới hạn phạm vi “khoản đầu tư”, “nhà đầu tư” trên cơ sở rõ ràng, không quá rộng và phù hợp với pháp luật Việt Nam.
Để xây dựng các cam kết về đầu tư phù hợp với pháp luật, thực tiễn Việt Nam, các cơ quan nhà nước được giao trách nhiệm đàm phán điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về đầu tư cần:
- Cân nhắc lợi ích và rủi ro của các cam kết trong điều ước, thỏa thuận đầu tư cũng như điều khoản giải thích điều ưốc, thỏa thuận đầu tư; điều khoản về giải quyết tranh chấp, các ngoại lệ và bảo đảm phù hợp với pháp luật Việt Nam;
- Nâng cao chất lượng rà soát, thẩm định, thẩm tra các nội dung của điều ước quốc tế, thỏa thuận với nhà đầu tư nước ngoài để bảo đảm các điều ước, thỏa thuận này sau khi được Nhà nưốc, Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước Việt Nam ký hoặc gia nhập có tính khả thi, phù hợp vối điểu kiện thực tiễn Việt Nam;
- Khi đàm phán, thỏa thuận hợp đồng dự án giữa cơ quan nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các hợp đồng dự án giữa cơ quan nhà nước ở địa phương với nhà đầu tư nước ngoài, các cơ quan nhà nước phải bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế liên quan, tránh đưa ra những cam kết không phù hợp hoặc có mức độ ưu đãi cho nhà đầu tư nước ngoài cao hơn mức mà pháp luật cho phép. Trong quá trình thương thảo, đàm phán hợp đồng dự án đầu tư nước ngoài cần thu hút sự tham gia của các chuyên gia pháp lý, luật sư giỏi về thương mại, đầu tư quốc tế để tư vấn cho các cơ quan nhà nước.
Ngoài ra, trong khi đàm phán các điều ước quốc tế về đầu tư, Việt Nam cần tính toán để đưa các phương thức hòa giải ngoài thiết chế giải quyết tranh chấp vào cơ chế ISDS bảo đảm phù hợp với pháp luật Việt Nam, tạo thuận lợi, giảm chi phí cho việc ISDS.
3. Hoàn thiện pháp luật trong nước
Hoàn thiện pháp luật trong nước liên quan đến đầu tư nước ngoài phù hợp với cam kết quốc tế và có những quy định mang tính phòng ngừa tranh chấp quốc tế, cụ thể:
- Xây dựng một cơ chế pháp luật trong nước đủ để thực hiện các cam kết quốc tế về đầu tư, theo đó các văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài như: Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu, Luật Doanh nghiệp và các luật chuyên ngành cũng như văn bản hướng dẫn phải phù hợp với các cam kết quốc tế về đầu tư của Việt Nam.
Hiện tại, pháp luật đầu tư của Việt Nam không quy định về phòng ngừa, giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài. Điều này cũng sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc phòng ngừa cũng như tiếp cận và sử dụng ISDS của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước Việt Nam. Trong thời gian tới, để khắc phục hạn chế này, Luật Đầu tư và các văn bản liên quan cần có các quy định về ISDS, trong đó xác định về nguyên tắc các trường hợp được coi là vụ việc ISDS theo hướng loại trừ những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đầu tư giữa Chính phủ Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài ra khỏi loại việc về ISDS. Bên cạnh đó, cần xây dựng được cơ chế pháp luật phòng ngừa tranh chấp giữa Nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài. Một đặc điểm nổi bật nữa của tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước là thường phát triển từ những tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với các cơ quan nhà nước cụ thể (ví dụ: Bộ, ủy ban nhân dân, cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát) không được giải quyết triệt để.
Do đó, việc xây dựng cơ chế phòng ngừa trong pháp luật loại tranh chấp này, theo đó cần thực hiện một cách bài bản từ giai đoạn xây dựng các cam kết quốc tế, thỏa thuận quốc tế về đầu tư của các cơ quan nhà nưốc ở Trung ương, địa phương cũng như việc xây dựng, thực hiện pháp luật của các cơ quan này. Cùng với đó, cần xây dựng hệ thốhg cảnh báo sớm và cơ quan đầu môì, quản lý phòng ngừa tranh chấp giữa Nhà nưóc Việt Nam và nhà đầu tư nưốc ngoài như trên đã phân tích.
Bên cạnh đó, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện pháp luật về cơ chế quản lý đầu tư nước ngoài ỏ Trung ương, địa phương. Trong thời gian vừa qua, việc phân cấp mạnh mẽ về quản lý đầu tư nước ngoài cho địa phương có mặt tích cực là giúp một số địa phương chủ động, linh hoạt, giảm thòi gian xét duyệt, cấp chứng nhận đầu tư. Tuy nhiên, mặt hạn chế là đã làm chia cắt công tác quản lý đầu tư nưốc ngoài, dẫn đến “trăm hoa đua nở”, các địa phương thậm chí áp dụng cả các biện pháp “vượt luật” để thu hút đầu tư nưốc ngoài, nhiều chỗ, nhiều nơi đã dẫn đến tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và cơ quan nhà nước, có nguy cơ trở thành ISDS khi có điều chỉnh lại các biện pháp khuyến khích đầu tư để phù hợp với pháp luật. Do đó, trong thời gian tối, cần nghiên cứu lại cơ chế phân cấp về quản lý đầu tư để phù hợp hơn với điều kiện thực thi pháp luật của từng địa phương, trong đó tính đến cả các cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư vổi việc giao nhiều quyền, trách nhiệm hơn so với những tỉnh, thành phô' khác cho các thành phô' lớn trực thuộc Trung ương.
Trên cơ sở nhận diện những tồn tại, bất cập trong pháp luật về giải quyết khiếu nại; giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nưốc Việt Nam theo phương thức tòa án, trọng tài Việt Nam như đã nêu tại Chương III để hoàn thiện pháp luật ở các lĩnh vực này nhằm giảm thiểu việc đưa tranh chấp giữa nhà đầu tư nưốc ngoài và Nhà nước Việt Nam ra giải quyết tại trọng tài quốc tê' hoặc cơ quan tài phán nước ngoài.
Ngoài ra, trong thời gian tới Bộ Tư pháp và các bộ, ngành hên quan nên rà soát đề xuất sửa đổi Quyết định sô' 04/2014/QĐ-TTg để xử lý các vấn đề vướng mắc, đặc biệt bổ sung các quy định phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước Việt Nam.
4. Cải thiện việc thực thi pháp luật về đầu tư nước ngoài, nhất là ở cấp địa phương
Thường xuyên có sự phối hợp giữa cơ quan nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước trong giải quyết các khó khăn, vướng mắc liên quan đến thiết lập, thực hiện dự án đầu tư
Hiện tại, pháp luật đầu tư quy định các nguyên tắc chung về việc thông tin hai chiều, tiếp xúc giữa cơ quan quản lý nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài về chính sách, pháp luật cũng như thực hiện pháp luật về đầu tư hoặc xử lý, giải quyết kịp thời các vấn đề vướng mắc đầu tư. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có văn bản pháp luật chính thức nào quy định chi tiết vê' nội dung này. Trên thực tế, chế độ thông tin hai chiều giữa cơ quan quản lý nhà nước vối nhà đầu nước ngoài thực hiện không thường xuyên, bài bản và chưa hiệu quả, thậm chí ỏ cả các thành phố’ lớn như: Thành phô’ Hồ Chí Minh, thành phô' Hà Nội. Do đó, cần tăng cường đối thoại, tổ chức các diễn đàn về đầu tư tạo cơ hội trao đổi, thảo luận những khó khăn, vướng mắc của cả phía cơ quan nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài ở Trung ương, thông qua các hội nghị tiếp xúc với nhà đầu tư để thông tin chính sách, pháp luật về đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài và tiếp nhận thông tin phản hồi từ các nhà đầu tư nước ngoài về chính sách, pháp luật đầu tư đó.
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư ở địa phương, tổ chức các hội nghị xúc tiến đầu tư hoặc tạo kênh gặp gỡ, tiếp xúc trực tiếp với nhà đầu tư nước ngoài để có được những thông tin, phản ánh từ các nhà đầu tư nước ngoài và đưa ra phản hồi của mình đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp nước ngoài liên quan đến vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện dự án đầu tư. Thông qua tiếp xúc, cơ quan nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước kịp thòi có những biện pháp tháo gỡ bất đồng. Các khó khăn, vướng mắc hoặc bất đồng đó có thể là việc triển khai dự án, chính sách thuế, hải quan, thanh quyết toán các công trình/gói thầu, V.V.. Việc nhận diện, tháo gỡ sớm những khó khăn, vướng mắc đó sẽ tránh được các tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Việt Nam phát sinh.
Ngoài ra, trong khi chưa có cơ quan đầu mối về phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Việt Nam, các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nên phân công cơ quan nhà nước tiếp nhận xử lý các phản ánh 'của nhà đầu tư nước ngoài liên quan đến thực hiện các dự án đầu tư để phòng ngừa tranh chấp có thể xảy ra.
- Lựa chọn, thẩm định năng lực của nhà đầu tư nước ngoài
Trước khi cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc ký hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư với nhà đầu tư nưôc ngoài, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc này phải thẩm định kỹ năng lực thực hiện các dự án đầu tư của họ.
Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014, thì các dự án đầu tư được thẩm định theo quy trình nhất định, tùy thuộc đó là dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hay ủy ban nhân dân cấp tỉnh (riêng đốì vối dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội có thêm thủ tục thẩm tra) trước khi cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Tuy vậy, thực tế cho thấy nhiều dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhưng không đủ năng lực thực hiện, nhất là năng lực về tài chính. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp giữa nhà đầu tư nưốc ngoài và Nhà nước Việt Nam. Do đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định, thẩm tra các dự án đầu tư cần xem xét kỹ các yếu tố bảo đảm thực hiện thành công dự án của nhà đầu tư nước ngoài, như: kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực đăng ký đầu tư, năng lực chuyên môn, khả năng tài chính của nhà đầu tư cũng như năng lực của những cá nhân liên quan để có thể thực hiện dự án. Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhất là ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ xem xét cấp chứng nhận đăng ký đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài có đủ năng lực thực hiện dự án đầu tư, thực hiện ưu tiên theo quy định của pháp luật đôì với các dự án đầu tư vào lĩnh vực trọng điểm, có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đỊa phương, tránh cấp chứng nhận đầu tư tràn lan, không có định hưóng.
- Giám sát chặt chẽ việc triển khai dự án đầu tư nước ngoài
Để phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Việt Nam, trong quá trình các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam, các cơ quan nhà nước cần phải giám sát chặt chẽ việc thực hiện đúng hay không đúng các hạng mục đầu tư, tiến độ thực hiện dự án theo cam kết. Việc giám sát này giúp cho cơ quan nhà nước nắm bắt kịp thời khả năng hoàn thành dự án đầu tư, phát hiện sổm các vi phạm của các nhà đầu tư nước ngoài để có biện pháp điều chỉnh, cùng nhà đầu tư tháo gỡ khó khăn liên quan đến triển khai, thực hiện dự án đầu tư hoặc ngán chặn kịp thời những vi phạm. Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 63/2018/NĐ-CP thì việc giám sát, đánh giá thực hiện các dự án đầu tư thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài. Việc giám sát thực hiện dự án đầu tư chủ yếu sẽ do các cơ quan nhà nưốc ở địa phương thực hiện.
- Phát hiện, xử lý sớm bất đồng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước
Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam cho thấy, ISDS thường phát sinh do việc xử lý không triệt để những mâu thuẫn giữa cơ quan nhà nước cụ thể ở Trung ương hoặc địa phương với nhà đầu tư nước ngoài bằng các việc đôì thoại, giải quyết khiếu nại hay giải quyết tranh chấp tại tòa án hay trọng tài của nước nhận đầu tư. Do đó, nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục khởi kiện vụ việc ra trọng tài quốc tế. Chính vì vậy, phát hiện, xử lý sớm bất đồng giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước theo thủ tục hành chính hoặc tư pháp trong nước là một trong những biện pháp hiệu quả để phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước Việt Nam.
5. Nâng cao năng lực thực thi pháp luật về đầu tư nước ngoài cho các cơ quan quản lý nhà nước
Để phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Việt Nam, các cơ quan nhà nước ở Trung ương, nhất là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp, ngoài việc tự đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng pháp luật quốc tế, cam kết đầu tư quốc tế cho cán bộ, công chức của mình, còn phải có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức làm công tác pháp chế, pháp luật và cán bộ làm công tác đầu tư nước ngoài của các cấp địa phương về kiến thức, kỹ năng trong lĩnh vực này.
Đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương như: sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thuế, Cục Hải quan, các Ban Quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, v.v. cũng cần có các giải pháp tự đào tạo về kiến thức, kỹ năng pháp luật quốc tế nói chung, pháp luật về đầu tư nước ngoài nói riêng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của mình để nâng cao năng lực thực thi pháp luật về đầu tư nước ngoài.
6. Lập cơ chế phối hợp để theo dõi, giám sát việc triển khai thực hiện Công ước Niu Oóc năm 1958
Việc tòa án của quốc gia nhận đầu tư vi phạm Công ước Niu Oóc năm 1958, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư nước ngoài cũng là một cơ sở để nhà đầu tư khởi kiện nhà nước của quốc gia nhận đầu tư.
Vì vậy, việc giám sát và bảo đảm thực hiện đúng tinh thần Công ước là một bước phòng ngừa hết sức quan trọng, tránh cho Nhà nước Việt Nam phải đối mặt với những tranh chấp đầu tư quốc tế.
7. Hình thành cơ quan đầu mối và mạng lưới các cơ quan có nhiệm vụ phòng ngừa tranh chấp đẩu tư quốc tế
Theo kinh nghiệm của các quốc gia đã thành công trong công tác phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (ví dụ: Hàn Quốc, Pêru), Việt Nam cần có cơ quan đầu mối và hệ thống cơ quan có nhiệm vụ phòng ngừa loại tranh chấp này. Nhiệm vụ đầu mối nên được giao cho cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư ở Trương ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
Đối với các bộ, ngành có thể bị nhà đầu tư nưốc ngoài khỗi kiện liên quan đến việc ban hành các văn bản pháp luật, thực hiện việc giải quyết khiếu kiện của nhà đầu tư nước ngoài cần bố trí những công chức thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước Việt Nam tại các đơn vị liên quan.
Liên quan đến cấp địa phương, các sở Kế hoạch và Đầu tư phải có bộ phận trực tiếp làm công tác phòng ngừa tranh chấp giữa cơ quan nhà nước với nhà đầu tư. Theo đó, bộ phận này có trách nhiệm tiếp xúc, giải đáp thắc mắc, phối hợp với các cơ quan nhà nước khác cùng nhà đầu tư nước ngoài tháo gỡ khó khăn vưóng mắc trong quá trình thiết lập, thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài tại địa phương.
8. Phổ biến, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận dễ dàng quy định pháp luật đầu tư
Làm cho nhà đầu tư nước ngoài hiểu đúng, đủ quyền và nghĩa vụ của mình là một trong những điều kiện để giảm thiểu các tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước Việt Nam. Trách nhiệm này thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư cả ở cấp Trung ương và cấp địa phương.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sở Kế hoạch và Đầu tư cần cung cấp thông tin, phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật trong nước về đầu tư nước ngoài. Theo đó, các cơ quan lý nhà nước về đầu tư ỏ Trung ương và địa phương cần tăng cường năng lực của cơ quan, bộ phận đầu mối có nhiệm vụ phổ biến, hương dẫn các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện pháp luật Việt Nam về đầu tư, đặc biệt là các trung tâm xúc tiến đầu tư khu vực và các phòng xúc tiến đầu tư. Các cơ quan, bộ phận đầu mối này phải đủ năng lực để thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Làm đầu mới tiếp xúc với nhà đầu tư nước ngoài, cung cấp thông tin, giới thiệu vị trí đất trong quy hoạch cho nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào địa bàn quản lý;
- Hướng dẫn các nhà đầu tư lập dự án và tiếp nhận hồ sơ dự án, làm đầu môì thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài;
- Quản lý và theo dõi thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn;
- Tổng hợp, báo cáo định kỳ và theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền về việc đầu tư và thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn;
- Tổ chức tuyên truyền quảng bá các ưu đãi đầu tư trên phương tiện thông tin để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).