1. Mở đầu

Đảng ta xác định đẩy mạnh tranh tụng là khâu đột phá của cải cách tư pháp. Thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, Hiến pháp năm 2013 hiến định nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (khoản 5 Điều 106). Như vậy, cải cách tư pháp ở nước ta khẳng định tiếp tục xây dựng tố tụng hình sự trên nền tảng của mô hình thẩm vấn, đồng thời, tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của mô hình tranh tụng, tăng cường quá trình tranh luận, trao đổi, kiểm tra chứng cứ và chứng minh một cách dân chủ và công bằng để tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa. Chỉ có như vậy, mới đạt được sự “tâm phục, khẩu phục", hạn chế kháng cáo, kháng nghị làm kéo dài quá trình giải quyết vụ án, củng cố lòng tin của Nhân dân vào công lý, sự công bằng của pháp luật.

Cụ thể hóa yêu cầu của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung nhiều quy định trong các giai đoạn tố tụng để bảo đảm cho nguyên tắc này được tổ chức thực thi nghiêm túc trên thực tế.

2. Một số quy định bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015

- Thứ nhất, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung vào hệ thống các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nước ta “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Đồng thời, quy định rõ, để bảo đảm tranh tụng trong xét xử: quá trình tranh tụng phải được thực hiện ở mọi giai đoạn (từ khởi tố điều tra, truy tố xét xử); các chủ thể đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thực khách quan của vụ án; mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa (Điều 26).

- Thứ hai, phá thế độc quyền trong việc thu thập chứng cứ (Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đang chỉ giao cho cơ quan tố tụng); theo đó, bổ sung cho người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, người bị buộc tội có quyền đưa ra chứng cứ thay vì chỉ có quyền thu thập, đưa ra tài liệu, đồ vật và yêu cầu.

Theo Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

"Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa.

Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án."

- Thứ ba, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 bổ sung cơ chế bảo đảm cho người bị buộc tội nắm được các chứng cứ buộc tội (như: quyền được nhận đầy đủ các quyết định tố tụng liên quan đến việc buộc tội; quyền được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu đã được số hóa trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra...).

- Thứ tư, đổi mới trình tự xét hỏi tại phiên tòa nhằm tăng cường trách nhiệm, sự chủ động của các chủ thể tố tụng. Theo đó, thay vì quy định trình tự như trước đây: “chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự (khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Trong mọi trường hợp, “chủ tọa phiên tòa hỏi trước”, sau đó “quyết định người hỏi trước, hỏi sau” theo thứ tự hợp lý (khoản 1, 2 Điều 307).

- Thứ năm, nhằm khắc phục tình trạng chất lượng tranh tụng còn hạn chế ở một số phiên tòa có đông bị cáo, có nhiều luật sư tham gia, do chỉ cho phép tối đa hai Kiểm sát viên tham gia (Điều 189 BLTTHS năm 2003), BLTTHS năm 2015 được sửa đổi theo hướng Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa. Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên. Số lượng cụ thể Kiểm sát viên do Viện trưởng VKSND cùng cấp quyết định, trên cơ sở căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng vụ án (Điều 289).

- Thứ sáu, quy định trách nhiệm của Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu, lập luận để tranh tụng đến cùng với từng ý kiến của người tham gia tố tụng (Điều 322).

- Thứ bảy, bổ sung quy định: trong nội dung bản án phải phân tích lý do mà Hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng (Điều 260). Đây là bổ sung rất quan trọng, thể hiện sự khách quan và tinh thần trách nhiệm đầy đủ của Tòa án khi phán quyết số phận pháp lý của con người.

- Thứ tám, quy định tranh tụng không chỉ được thực hiện ở phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm mà còn được thực hiện cả ở phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm; Tòa án có trách nhiệm bảo đảm tranh tụng bình đẳng giữa Kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng (Điều 386, 403)...

3. Bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa

Nguyên tắc tranh tụng được thể hiện đậm nét, đặc trưng nhất là tại phiên tòa (sơ thẩm, phúc thẩm) qua các điều luật với các nội dung cụ thể như sau:

BLTTHS năm 2015 đã được bổ sung một điều luật về giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa (Điều 279), trong đó quy định rõ trách nhiệm của Tòa án đối với việc giải quyết yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa, bảo đảm phiên tòa có đầy đủ các chủ thể tố tụng, các chứng cứ, tài liệu, đồ vật được đưa đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Quy định này nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp mà Đảng ta đã đề ra.

Để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, đồng thời nhấn mạnh đến việc tôn trọng ý chí của bị cáo trong trường hợp bị cáo nhận thấy sự vắng mặt của người bào chữa không ảnh hưởng đến quyền tự bào chữa và khắc phục tình trạng phải hoãn phiên tòa nhiều lần do vắng mặt người bào chữa như hiện nay, BLTTHS năm 2015 được sửa đổi quy định về sự có mặt của người bào chữa theo hướng trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Nếu người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử (Điều 291).

Khắc phục tình trạng trong thực tế tại nhiều phiên tòa, bị cáo không nhận tội và cho rằng việc khai nhận tại Cơ quan điều tra là do bị ép, bức cung, bảo đảm thống nhất với quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014, BLTTHS năm 2015 đã được bổ sung quy định sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa với tư cách là người đã điều tra vụ án (Điều 296) để góp phần làm rõ những chứng cứ hoặc những vấn đề có liên quan đến vụ án, bảo đảm các chứng cứ được đưa ra có tính thuyết phục cao hơn. Ngoài ra, Bộ luật còn bổ sung quy định về sự có mặt của người giám định, người định giá tài sản (Điều 294) để trình bày các vấn đề liên quan đến việc định giá; và bổ sung quy định về sự có mặt của người phiên dịch, người dịch thuật (Điều 295).

Để bảo đảm sự độc lập của Tòa án trong xét xử, bảo đảm phán quyết của Tòa án phải trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh tụng và những chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa, BLTTHS năm 2015 đã được bổ sung quy định về giới hạn của việc xét xử trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó nhưng quá trình xét xử phải bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo và tuân thủ các quy định khác của Bộ luật (Điều 298).

Nhằm cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, bảo đảm việc tranh tụng không chỉ thể hiện ở phần tranh luận mà còn được thể hiện ngay trong phần xét hỏi. BLTTHS năm 2015 đã nhập thủ tục xét hỏi tại phiên tòa với thủ tục tranh luận tại phiên tòa (Chương XX và Chương XXI của BLTTHS năm 2003) thành “Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” (Mục V Chương XXI - Xét xử sơ thẩm).

4. Tranh luận dân chủ tại phiên tòa

Để có cơ sở tranh luận dân chủ tại phiên tòa, BLTTHS năm 2015 đã được bổ sung quy định nội dung luận tội của Kiểm sát viên phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.

Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng. Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật (Điều 321) và nhấn mạnh trách nhiệm của Kiểm sát viên là phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Đồng thời, bổ sung trách nhiệm của Hội đồng xét xử là phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án (Điều 322).

5. Kết luận

Có thể nói, với việc Hiến định nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” và việc cụ thể hóa nội dung nguyên tắc này trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã phản ánh bước tiến của nền tư pháp nước nhà, tạo sự chuyển biến về chất, có tính quyết định đối với hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải thay đổi mạnh mẽ từ ý thức đến hành động, phải xác định bảo đảm tranh tụng là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đối với các Kiểm sát viên (với tư cách là một bên tranh tụng), cần chủ động trang bị đầy đủ hơn về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh và sự chuẩn bị chu đáo cho mỗi phiên tòa nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)