1. Giới thiệu

Năm 2013 Hiến pháp mới của Việt Nam được ban hành, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, nguyên tắc tranh tụng được thừa nhận chính thức trong một văn bản pháp lý của Nhà nước, tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Đây là định hướng chỉ đạo cho việc tiếp tục quy định nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).

Ngày 27/12/2015, BLTTHS đã được Quốc hội thông qua, nguyên tắc tranh tụng được thể hiện tại Điều 26. Để bảo đảm nguyên tắc này, BLTTHS 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung mới so với BLTTHS 2003.

2. Quy định bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa trong BLTTHS 2003

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có nhiều quy định bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa như Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng có quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu để xem xét (Điều 205); người bào chữa có quyền bình đẳng với Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong việc xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác (các điều 207, 209, 210, 211 và 215); có quyền cùng Hội đồng xét xử xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ nơi xảy ra tội phạm và trình bày nhận xét của mình (Điều 212 và Điều 213); và đặc biệt quy định về trình tự phát biểu khi tranh luận và đối đáp (Điều 217 và Điều 218).

3. Quy định bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa trong BLTTHS 2015

Với chủ trương Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được bổ sung nhiều quy định để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Cụ thể, Bộ luật quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa; về việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; đề nghị của bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (Điều 279).

Nhằm khắc phục tình trạng chất lượng tranh tụng còn hạn chế ở một số phiên tòa có đông bị cáo, có nhiều luật sư tham gia do chỉ cho phép tối đa hai Kiểm sát viên tham gia (Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi theo hướng quy định “Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa... Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên” (khoản 1 Điều 289 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Số lượng cụ thể Kiểm sát viên do Viện trưởng

Viện kiểm sát cùng cấp quyết định, trên cơ sở căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng vụ án.

Để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, đồng thời, nhấn mạnh đến việc tôn trọng ý chí của bị cáo trong trường hợp bị cáo nhận thấy sự vắng mặt của người bào chữa không ảnh hưởng đến quyền tự bào chữa và khắc phục tình trạng phải hoãn phiên tòa nhiều lần do vắng mặt người bào chữa như hiện nay, khoản 1 Điều 291 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi quy định về sự có mặt của người bào chữa theo hướng: “Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Nếu người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử”.

Nhằm cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, bảo đảm việc tranh tụng không chỉ thể hiện phần tranh luận mà còn được thể hiện ngay trong phần xét hỏi, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã nhập thủ tục xét hỏi tại phiên tòa với thủ tục tranh luận tại phiên tòa (Chương XX và Chương XXI của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) thành “Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” (Mục V Chương XXI - Xét xử sơ thẩm Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về trình tự xét hỏi còn đặt nặng trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Hội đồng xét xử, cụ thể khoản 2 Điều 207 quy định: Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các “Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa...”. Khắc phục hạn chế này, để bảo đảm việc tranh tụng được thể hiện ngay trong phần xét hỏi tại phiên tòa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung theo hướng "Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý" (khoản 1 Điều 307).

"Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi" (khoản 2 Điều 307); bổ sung quy định khi được Chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác, hỏi người làm chứng, hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo (các điều 309, 310 và 311). Sửa đổi theo hướng này để tạo ra một cơ chế thực sự dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa, tạo điều kiện để thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền buộc tội và gỡ tội tại phiên tòa.

Để có cơ sở tranh luận dân chủ tại phiên tòa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được bổ sung quy định nội dung luận tội của Kiểm sát viên phải “phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.

Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.

Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật (khoản 2, 3, 4 Điều 321) và nhấn mạnh trách nhiệm của Kiểm sát viên là phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Đồng thời, bổ sung trách nhiệm của Hội đồng xét xử là: “phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án.

Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án (khoản 4 Điều 322).

Không chỉ bảo đảm tranh tụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có những nội dung sửa đổi, bổ sung để bảo đảm tranh tụng ở cả giai đoạn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Cụ thể, ngoài quy định thủ tục bắt đầu phiên tòa và thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm, khoản 2 Điều 354 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 còn được bổ sung quy định: “Chủ tọa phiên tòa hỏi người kháng cáo có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.

Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị.

Khi tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên, người khác liên quan đến kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị”.

4. Bảo đảm tranh tụng trong thủ tục giám đốc thẩm

Đối với thủ tục giám đốc thẩm, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tại khoản 2 Điều 383 được bổ sung quy định: “Trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm”; tại khoản 1 Điều 386 về thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm được bổ sung nội dung "các thành viên khác của Hội đồng giám đốc thẩm hỏi thêm Thẩm phán thuyết trình về những điểm chưa rõ trước khi thảo luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án”. Ngoài ra, Điều luật này còn quy định cụ thể trường hợp người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị có mặt tại phiên tòa thì những người này được trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu. Đối với Kiểm sát viên, ngoài quyền phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, khoản 1 Điều 386 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 còn quy định: “Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày nội dung kháng nghị”. Đồng thời, bổ sung quy đỊnh sau đó, “Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm tranh tụng về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Chủ tọa phiên tòa phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng trình bày hết ý kiến, tranh luận dân chủ, bình đẳng trước Tòa án” (khoản 2 Điều 386). Như vậy, điều luật này quy định đầy đủ, cụ thể về thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm, quy định người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị có quyền có mặt và tranh tụng với Kiểm sát viên. Đây là những điểm mới về thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm, thể hiện vai trò của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm.

5. Kết luận

Tóm lại, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm và cụ thể hóa nguyên tắc này với những nội dung phù hợp với thực tiễn tố tụng và điều kiện cụ thể của Việt Nam, trên nền tảng mô hình tố tụng thẩm vấn, duy trì những ưu điểm vốn có của mô hình này nhằm mở rộng và tăng cường tính dân chủ, công khai, công bằng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự; bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền dân chủ cho người bị buộc tội và người đại diện của họ, tạo ra các khả năng và điều kiện tốt nhất để họ thực hiện quyền bào chữa, tranh tụng; bảo đảm quá trình giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, triệt để, vô tư; bảo đảm việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả và việc giải quyết vụ án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)