Việc phân thành 03 loại này có dựa trên quy chuẩn, quy định nào của quốc tế hay không ? Hay dựa trên yếu tố nào để phân định như vậy?  Tại sao không thống nhất một cơ quan quản lý thôi mà lại chia thành 03 cơ quan thuộc 2 bộ như vậy ạ ? 

Tôi biết câu hỏi của tôi hơi khó hiểu nhưng nếu được mong luật sư giải đáp giúp tôi ạ. Cảm ơn nhiều!

Người hỏi: N.T.T.Hương (Tỉnh Hà Tĩnh).

 

Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn, thực ra câu hỏi của bạn cũng rất thú vị - Việc phân loại này trên thực tế cũng có nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau, xin cung cấp đến bạn một vài góc nhìn pháp lý như sau:

 

1. Phân loại quyền sở hữu trí tuệ theo quốc tế

Căn cứ vào Công ước WIPOHiệp định TRIPS đã xác định, các quốc gia là thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, có quy định về quyền sở hữu trí tuệ trong từng quốc gia thành viên và đều có những điểm chung là dựa trên các đặc điểm của các sản phẩm thuộc quyền sở hữu trí tuệ để phân loại.

a)    Loại thứ nhất là quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, phần mềm máy tính và các quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền kế cận quyền tác giả).

Đặc đểm của các sản phẩm sáng tạo trí tuệ trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan không áp dụng vào sản xuất, kinh doanh để tạo ra vật chất mới, hàng hóa. Những sản phẩm sáng tạo trí tuệ là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học khi được sử dụng mang đến cho độc giả, thính giả những hiểu biết nhất định, thỏa mãn nhu cầu tinh thần, mang đến cho độc giả những giá trị thẩm mỹ, quan niệm sống, sự hiểu biết nhất định về thế giới trong quá khứ, hiện tại và viễn cảnh trong tương lai thuộc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong hòa bình, trong chiến tranh, tình yêu, khát vọng, quan niệm về lẽ sống, về hạnh phúc, sự dũng cảm, đê hèn, về chính nghĩa, phi nghĩa...

b)    Loại thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp là quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Các sản phẩm trí tuệ thuộc nhóm này được áp dụng và sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ thu được những sản phẩm là hàng hóa chứa đựng hàm lượng trí tuệ cao, làm thay đổi công nghệ, tăng năng suất lao động và trong nhiều trường hợp các giải pháp kỹ thuật này làm thay đổi một nền sản xuất như một cuộc cách mạng về công nghệ. Các sản phẩm trí tuệ là tài sản vô hình, nhưng khi áp dụng vào sản xuất, kinh doanh được vật chất hóa là các sản phẩm hàng hóa mang giá trị kinh tế cao.

c)    Loại thứ ba, quyền đối với giống cây trồng được xác lập trong việc chọn giống, tạo giống, phát hiện và nhân giống mới.

 

2. Phân loại quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam

Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 và theo Văn bản hợp nhất luật sở hữu trí tuệ số: 07/VBHN-VPQH năm 2019, thì việc phân loại của Việt Nam cũng khá tương đồng với thế giới (quốc tế), cụ thể:

Điều 3, luật sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định":

Điều 3. Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

1. Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.

2. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

3. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống.

Như vậy, ở góc độ chung nhất thì Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng (theo điểm 1, điều 4, luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009). và Cũng theo điều 4 này, nếu chia chi tiết hơn thì có thể chia thành 4 đối tượng về quyền sở hữu trí tuệ:

- Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu.

(*) Việc chia thành 3 cơ quan thuộc 2 bộ ý kiến của bạn là nên hợp nhất tôi thấy cũng khá nhiều mặt tích cực tuy nhiên hiện nay pháp luật việt nam có nhiều văn bản pháp quy quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cục, sở nên chưa có thay đổi nào nên chúng tôi không có bình luận gì thêm về vấn đề này.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vự sở hữu trí tuệ bạn có thể sử dụng: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật qua email hay Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162, hoặc có thể Đặt lịch để gặp luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng phục vụ bạn./.