- 1. Các chế định của Phần chung pháp luật hình sự Việt Nam
- a. Khái quát về các chế định của Phần chung pháp luật hình sự nói chung
- b. Các chế định trong Phần chung Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985)
- 2. Phạm vi điều chỉnh chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội
- 3. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội theo Bộ luật
- 4. Nguyên tắc cơ bản về xử lý những hành vi phạm tội của người chưa thành niên phạm tội
- 5. Biện pháp tư pháp và hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
- 6. Tổng hợp hình phạt và biện pháp tha miễn dành riêng cho người chưa thành niên phạm tội
- a. Tổng hợp hình phạt cho người chưa thành niên phạm tội
- b. biện pháp tha miễn dành riêng cho người chưa thành niên phạm tội
Khách hàng: Kính thưa Luật sư, các chế định trong phần chung của Bộ luật hình sự đầu tiên gồm những chế định nào? Luật sư hãy giúp tôi phân tích và làm rõ về chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội tại Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam được thể hiện như thế nào?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Các chế định của Phần chung pháp luật hình sự Việt Nam
a. Khái quát về các chế định của Phần chung pháp luật hình sự nói chung
Nhìn chung, khi nghiên cứu hệ thống những vấn đề thuộc Phần chung pháp luật hình sự thực định Việt Nam đã được pháp điển hóa cần được triển khai theo một quy trình chặt chẽ của các bước trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để giải quyết một vụ án hình sự nhằm đạt được sự thống nhất tương ứng với lần lượt 08 chế định lớn của Phần chung pháp luật hình sự của pháp luật hình sự Việt Nam trên cơ sở trên thứ tự trước đến sau và điều này đều hoàn toàn giống nhau đối với trong cả ba Bộ luật Hình sự (Bộ luật hình sự (năm 1985), Bộ luật hình sự (năm 1999) và Bộ luật hình sự năm 2015) đó là các chế định sau đây:
- Đạo luật hình sự
- Tội phạm
- Những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi
- Trách nhiệm hình sự
- Các biện pháp cưỡng chế hình sự
- Quyêt định hình phạt
- Các biện pháp tha miễn
- Chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội.
Ngoài các chế định trên đây, sẽ tùy thuộc sự phát triển của các quan hệ xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước mà hệ thống và cấu trúc các chế định lớn thuộc Phần chung của ba Bộ luật Hình sự sẽ có sự khác nhau, tuy nhiên sự khác nhau sẽ không đáng kể. Ví dụ, ngoài 08 chế định lớn thuộc Phần chung pháp luật hình sự thực định giống nhau ra, trong hai Bộ luật Hình sự (thứ nhất và thứ ba) mỗi Bộ luật đều có bổ sung thêm một chế định lớn khác nữa, mà cụ thể như sau:
a. Bộ luật Hình sự đầu tiên là Bộ luật hình sự (năm 1985), bộ luật này đã được bổ sung thêm một chế định lớn thứ 09 về trách nhiệm hình sự của quân nhân phạm tội (mà kể từ Bộ luật Hình sự của năm 1999 trở đi thì không còn chế định này nữa); và;
b. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thêm một chế định lớn thứ 09, đó là chế định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội.
b. Các chế định trong Phần chung Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985)
Theo logic của việc nghiên cứu Phần chung pháp luật hình sự thì sau khi xem xét những vấn đề liên quan đến hệ thống và cơ cấu (về mặt hình thức) sẽ phân tích đến hệ thống những vấn đề về Phần chung pháp luật hình sự thực định nước nhà đã được pháp điển hóa lần thứ nhất tương ứng với các quy phạm thuộc 09 chế định lớn trong Bộ luật Hình sự đầu tiên năm 1985 của nước Việt Nam thống nhất. Dó đó, hệ thống những vấn đề thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) sẽ được xem xét tương ứng với các chế định lớn trong 09 phần mà chúng ta sẽ phải nghiên cứu, đó là:
- Về đạo luật hình sự.
- Về tội phạm.
- Về những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi.
- Trách nhiệm hình sự.
- Về các biện pháp cưỡng chế hình sự (với hai nhóm quy phạm tương ứng theo hai chế định nhỏ, đó là: Hình phạt và biện pháp tư pháp (biện pháp tư pháp).
- Về quyết định hình phạt.
- Về các biện pháp tha miễn (ỗ đây gồm rất nhiều nhóm quy phạm của các chế định nhân đạo nhỏ thuộc nó).
- Về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội.
- Và cuối cùng, về trách nhiệm hình sự của quân nhân phạm tội.
Dưới đây chúng ta hãy cùng tìm hiểu, phân tích chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội tại Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985).
2. Phạm vi điều chỉnh chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội
Vhế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội – đây là lần đầu tiên trong Phần chung pháp luật hình sự đã được pháp điển hóa của Việt Nam các quy phạm phản ánh nguyên tắc nhân đạo dành riêng cho người chưa thành niên phạm tội đã được ghi nhận trong Chương độc lập (Chương VII) “Những quy định đối vối người chưa thành niên phạm tội” gồm 11 điều luật (Điều 57 - Điều 67) của Bộ luật Hình sự (năm 1985).
Ở chế định này đã được quy định rõ ràng và riêng biệt tại Điều 57 “Áp dụng Bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội” với tinh thần là: Người chưa thành niên phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này của Bộ luật, cũng như theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) tuy nhiên sẽ không trái với những quy định của Chương này.
3. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội theo Bộ luật
Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội cũng đã được xác định rõ theo hai độ tuổi tương ứng vối hai khoản của Điều 58 Bộ luật, đó là:
- Người từ 14 tuổi trở lên những chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý;
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
4. Nguyên tắc cơ bản về xử lý những hành vi phạm tội của người chưa thành niên phạm tội
Những nguyên tắc cơ bản về xử lý những hành vi phạm tội của người chưa thành niên là nhóm quy phạm thể hiện rõ nét hơn cả bản chất ưu việt và nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam được nhà làm luật ghi nhận tại Điều 59 của Bộ luật, tại điều luật này bao gồm có 05 khoản. Tương ứng đó có những điểm lưu ý sau:
a. Việc xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội; trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm (khoản 1 của điều luật).
b. Đối với người chưa thành niên phạm tội, Viện kiểm sát và Toà án áp dụng chủ yếu những biện pháp giáo dục, phòng ngừa; gia đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm tham gia tích cực vào việc thực hiện những biện pháp ấy (khoản 2 điều luật).
c. Viện kiểm sát có thể quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngươi chưa thành niên phạm tội nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lốn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và nếu được gia đình và tổ chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát, giáo dục. Chỉ đưa người chưa thành niên phạm tội ra xét xử và áp dụng hình phạt đôì với họ trong những trưồng hợp cần thiết, căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa (khoản 3 điều luật).
d. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình người chưa thành niên phạm tội. Khi phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên; người chưa thành niên phạm tội phải được giam riêng; không xử phạt tiền và không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội (khoản 4 điều luật).
e. Án đã tuyên đối với ngưòi chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (theo khoản 5 của điều luật).
5. Biện pháp tư pháp và hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Về các biện pháp tư pháp và hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội. Đây cũng đã phản ánh rất rõ nguyên tắc nhân đạo trong việc áp dụng các chế tài pháp lý hình sự với đôì tượng này, cụ thể được quy định và phan tích như sau:
a. Tương ứng với hai khoản của Điều 60 Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) là:
- Hai biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phông ngừa do Toà án quyết định gồm có: Buộc phải chịu thử thách; và Đưa vào trường giáo dưỡng (khoản 1);
- Ba hình phạt gồm có: cảnh cáo; cải tạo không giam giữ; và Tù có thời hạn.
b. Tại 04 điều (Điều 61 - Điều 64 Bộ Luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) mà tại đó Bộ luật Hình sự (năm 1985) đã lần lượt cụ thể hóa bản chất pháp lý và trình tự áp dụng tương ứng với hai biện pháp tư pháp và hai hình phạt sau cùng - Điều 61 “Buộc phải chịu thử thách” (với 03 khoản); Điều 62 “Đưa vào trường giáo dưỡng” (với 02 khoản); Điểu 63 “Cải tạo không giam giữ” (với 01 khoản); và Điều 64 “Tù có thời hạn” (02 khoản).
6. Tổng hợp hình phạt và biện pháp tha miễn dành riêng cho người chưa thành niên phạm tội
a. Tổng hợp hình phạt cho người chưa thành niên phạm tội
Về việc tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên bị kết án. Với sự thể hiện nguyên tắc nhân đạo Bộ luật Hình sự đầu tiên (năm 1985) này đã quy định cụ thể tại Điều 65 (gồm 02 khoản cơ bản) nguyên tắc tổng hợp hình phạt đối với người phạm nhiều tội (mà trong đó có tội phạm trước khi đủ 18 tuổi, có tội phạm sau khi đủ 18 tuổi), thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:
- Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung không được vượt mức hình phạt cao nhất quy định ở Điều 64 (khoản 1) Bộ luật.
- Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội (khoản 2 điều luật).
b. biện pháp tha miễn dành riêng cho người chưa thành niên phạm tội
Về các biện pháp tha miễn dành riêng cho người chưa thành niên phạm tội thì Bộ luật Hình sự (năm 1985) đã chỉ quy định hai biện pháp tương ứng tại 02 điều (Điều 66 và Điều 67).
Theo đó, tại Điều 66 quy định về “Giảm thời hạn chấp hành hình phạt”, thì người chưa thành niên bị kết án nếu cải tạo tốt thì được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt vào thòi gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định ở Điều 49;
Theo Điều 67 “Xoá án” (gồm hai khoản) mà theo đó: Người chưa thành niên phạm tội mà được áp dụng những biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa quy định ở khoản 1 Điều 60 thì không bị coi là có án và; Thời hạn để xóa án đối với người chưa thành niên phạm tội là 1/2 thời hạn quy định ở các điều (Điều 53 - Điều 55).
Trân trọng!