1. Cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người

Trên cơ sở các văn bản pháp lý, các nước châu Âu đi tiên phong trong việc tạo cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Tại Hội đồng châu Âu có:

- Tòa án châu Âu về quyền con người (Tòa án riêng biệt năm 1998)

- Ủy ban châu Âu về các quyền xã hội (sửa đổi năm 1999)

- Ủy ban châu Âu về việc ngăn ngừa tra tấn hay các hành vi đối xử vô nhân đạo hay hạ nhục khác (CPT, 1989)

- Ủy ban cố vấn của Công ước khung về các dân tộc thiểu số (1998)

- Ủy ban châu Âu về chủ nghĩa chủng tộc và thiếu khoan dung (ECRI, 1993)

- Ủy viên châu Âu về quyền con người (1999)

- Ủy ban Bộ trưởng của Hội đồng châu Âu OSCE:

- Văn phòng thể chế dân chủ và quyền con người (ODIHR, 1990)

- Cao uỷ về các dân tộc thiểu số (OSCE, 1992)

- Đại diện về quyền tự do thông tin (OSCE, 1997)

Trực thuộc Liên minh châu Âu có các cơ quan sau:

- Tòa án công lý châu Âu

- Trung tâm giám sát châu Âu về phân biệt chủng tộc và nạn bài ngoại (EUMC, 1998)

- Cơ quan châu Âu về các quyền cơ bản (2007)

2. Tìm hiểu về Tòa án Nhân quyền Châu Âu

Tòa án Nhân quyền châu Âu (tiếng Anh: European Court of Human Rights, tiếng Pháp: Cour européenne des droits de l’homme) trụ sở tại Strasbourg, (Pháp) là một tòa án siêu quốc gia, được lập ra bởi Công ước châu Âu về Nhân quyền, một cấp tòa cuối cùng mà một người có thể cầu cứu khi cảm thấy nhân quyền của mình bị một nước ký kết Công ước châu Âu về Nhân quyền vi phạm.

Năm 1999 tòa án này có một lượng lớn công việc gồm 60.000 vụ kiện. Số này đã tăng lên thành khoảng 100.000 vụ trong năm 2007 và trên 120.000 vụ vào đầu năm 2010. Do khối lượng công việc lớn, một số vụ đã phải chờ đến 5 năm mới được giải quyết và lượng công việc tồn đọng là khá lớn.

Làm việc theo nguyên tắc "công lý bị trì hoãn là công lý bị từ chối", Ủy hội châu Âu đã lập ra một toán làm việc để xem xét cách thức nâng cao hiệu quả của Toà án. Việc này dẫn đến việc soạn thảo một Nghị định thư bổ sung cho Công ước - Nghị định thư 14 - mà cuối cùng đã được phê chuẩn bởi tất cả các nước thành viên vào ngày 01 tháng 6 năm 2010 (sau sự trì hoãn của Nga). Việc Nghị định thư 14 có hiệu lực bây giờ có nghĩa là:

- Chỉ một thẩm phán đã có thể quyết định xem một vụ khiếu tố có được thâu nhận để giải quyết hay không (trước đây phải có 3 thẩm phán xem xét).

- Khi các vụ khiếu tố khá giống như một vụ đã được đưa ra Tòa án này trước đây, và chủ yếu là do một nước thành viên không thi hành một phán quyết trước đó, thì vụ này có thể được quyết định bởi 3 thẩm phán chứ không phải 7 thẩm phán.

- Một vụ khiếu tố có thể không được nhận cứu xét nếu người nộp đơn được coi là đã không bị một "thiệt hại đáng kể"; tuy nhiên, đây không phải là một quy tắc cứng nhắc.

- Một nước thành viên có thể bị Ủy ban Bộ trưởng của Ủy hội châu Âu đưa ra tòa án này nếu nước đó từ chối thi hành một phán quyết.

- Ủy ban Bộ trưởng có thể yêu cầu Tòa án cho một "giải thích" của một phán quyết để giúp xác định cách tốt nhất để một quốc gia thành viên phải tuân thủ.

3. Ủy ban châu Âu về việc ngăn ngừa tra tấn hay các hành vi đối xử vô nhân đạo hay hạ nhục khác (CPT, 1989)

Ủy ban phòng chống Tra tấn của châu Âu, tên đầy đủ là Ủy ban châu Âu phòng chống Tra tấn và Trừng phạt hoặc Đối xử vô nhân đạo hoặc làm mất phẩm giá (European Committee for the Prevention of Torture and Inhuman or Degrading Treatment or Punishment) là một cơ quan của Ủy hội châu Âu. Nó được mô tả như là một sự đột nhập đáng chú ý vào lĩnh vực thường được gìn giữ cẩn thận của các quốc gia có chủ quyền.

Ủy ban này được thành lập trên cơ sở của Công ước phòng chống Tra tấn của châu Âu (1987), bắt đầu có hiệu lực từ tháng 2 năm 1989. Nó cho phép Ủy ban tới thăm mọi "mọi nơi giam giữ tù nhân" của các nước thành viên Ủy hội châu Âu. Các nơi giam giữ người - theo định nghĩa của Công ước trên – là mọi nơi trong đó những người bị giữ lại trái với ý muốn của họ. Ở hàng đầu là những xà lim của cảnh sát, nhà tù, trại giam, viện tâm thần khép kín, cũng như các nhà của những người già và giống như vậy. Những chuyến thăm không báo trước được thực hiện bởi các nhóm nhỏ các thành viên của ủy ban, cũng thường mời thêm các chuyên gia.

Sau mỗi chuyến thăm, một báo cáo về các sự việc tìm thấy và các khuyến nghị được lập ra và gửi cho chính phủ nơi đoàn tới thăm. Các sự việc tìm thấy không đề cập quá nhiều về các trường hợp cá nhân bị tra tấn nhưng về việc xác định các tình huống có nguy cơ có thể dẫn đến tra tấn. Báo cáo của ủy ban được giữ kín và chỉ được công bố nếu chính phủ đó yêu cầu. Tuy nhiên áp lực chính trị thường đè nặng lên các chính phủ khiến cho báo cáo phải được công khai. Chỉ trong trường hợp hiếm thấy, trong đó các chính phủ từ chối công bố và Ủy ban có bằng chứng rõ ràng về một hành vi tra tấn, thì Ủy ban có thể làm một "tuyên bố công khai" đơn phương.

Tất cả 47 nước thành viên của Ủy hội châu Âu đều đã phê chuẩn Công ước phòng chống Tra tấn. Nghị định thư số 1 bổ sung vào Công ước có hiệu lực từ ngày 1.3.2002, mời gọi các nước không là thành viên của Ủy hội châu Âu tham gia Công ước, tuy nhiên tới nay chưa có nước nào đáp ứng.

Sau 20 năm kinh nghiệm, mô hình của châu Âu này đã được Liên Hiệp Quốc làm cho thích hợp và khái quát hóa thông qua Nghị định thư tùy chọn bổ sung vào Công ước chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc (2006).

Các ủy viên của Ủy ban là những chuyên gia độc lập và không thiên vị từ những nền tảng khác nhau, trong đó có luật học, y học và hệ thống tư pháp Họ được Ủy ban bộ trưởng của Ủy hội châu Âu bầu chọn cho một thời hạn 4 năm và có thể được tái cử 2 lần. Mỗi nước thành viên được quyền có một ủy viên trong ủy ban.

4. Ủy ban phòng chống Tra tấn của châu Âu và các cuộc thăm viếng

Ủy ban tới thăm các nơi giam giữ người (nhà tù, trại giam, đồn cảnh sát, trung tâm giữ người nhập cư, bệnh viện tâm thần vv…), để xem xét những người bị tước quyền tự do được đối xử ra sao, và nếu cần, đưa ra khuyến nghị cải thiện cho các nước.

Các cuộc viếng thăm được thực hiện bởi các phái đoàn, thường là gồm 2 hoặc nhiều ủy viên của ủy ban, tháp tùng bởi thành viên của Nha thư ký ủy ban – và nếu cần – có thêm các chuyên gia và thông dịch viên. Vị ủy viên thuộc nước sở tại không tham gia phái đoàn này.

Các phái đoàn thăm viếng của Ủy ban ký thỏa thuận viếng thăm định kỳ với các nước, nhưng cũng có thể tổ chức các cuộc viếng thăm "ad hoc" (chỉ cho một mục đích riêng) nếu cần. Ủy ban phải thông báo cho nhà nước có liên quan nhưng không cần phải định rõ khoảng thời gian giữa thông báo và cuộc viếng thăm thực sự - mà trong trường hợp đặc biệt - có thể được thực hiện ngay lập tức sau khi thông báo. Các phản đối của chính phủ về thời gian hoặc địa điểm của chuyến thăm chỉ có thể được biện minh vì lý do quốc phòng, an toàn công cộng, rối loạn nghiêm trọng, điều kiện y tế của một người (bị giam giữ) hoặc là một cuộc thẩm vấn cấp thiết liên quan đến một tội ác nghiêm trọng đang được tiến hành. Trong trường hợp này, nhà nước phải lập tức thực hiện các bước để cho phép Ủy ban tới thăm càng sớm càng tốt.

Theo Công ước, các phái đoàn của Ủy ban có quyền tới thăm viếng không giới hạn những nơi giam giữ và quyền đi lại bên trong những nơi này không hạn chế. Họ phỏng vấn những người bị mất quyền tự do cách riêng tư và giao tiếp tự do với bất cứ ai có thể cung cấp thông tin.

Các khuyến nghị mà Ủy ban có thể đề xuất trên cơ sở các sự việc có thật được tìm thấy trong chuyến thăm này, sẽ được đưa vào một bản báo cáo gửi cho Nhà nước có liên quan. Báo cáo này là khởi điểm cho một cuộc đối thoại sẽ diễn ra với nước liên quan.

Ủy ban có hai nguyên tắc hướng dẫn: hợp tác và bảo mật. Hợp tác với các chính quyền quốc gia là cốt lõi của Công ước, vì mục đích là để bảo vệ những người bị tước quyền tự do của họ thay vì lên án các nước về những lạm dụng quyền hành này. Do đó Ủy ban gặp gỡ những người được thẩm vấn trong phòng riêng không có người ngoài tham dự và các báo cáo của họ được bảo mật nghiêm ngặt. Tuy nhiên, nếu một quốc gia không hợp tác hoặc từ chối cải thiện tình hình theo các khuyến nghị của Ủy ban, thì Ủy ban có thể quyết định đưa ra một tuyên bố công khai.

Tất nhiên, đích thân Nhà nước có thể yêu cầu công bố báo cáo của Uỷ ban, cùng với ý kiến nhận xét của mình. Ngoài ra, Ủy ban cũng lập một báo cáo chung về các hoạt động của mình hàng năm và được công bố.

5. Tòa án công lý châu Âu

Tòa án Công lý châu Âu là tòa án tối cao của Liên minh châu Âu trong những vấn đề liên quan đến luật pháp của Liên minh châu Âu ngoại trừ nội luật của các quốc gia thành viên. Không thể yêu cầu Tòa án Công lý châu Âu đưa ra những quyết định thay cho tòa án của các quốc gia thành viên nhưng các tòa của quốc gia thành viên có thể đưa vấn đề pháp lý có liên quan đến luật pháp của Liên minh châu Âu để Tòa án Công lý châu Âu tư vấn. Tuy nhiên, tòa án của các quốc gia thành viên bắt buộc phải tuân thủ cách giải thích luật của Tòa án Công lý châu Âu dựa trên vụ việc được xem xét để tư vấn. Tuy vậy, chỉ có tòa án tối cao của các quốc gia thành viên mới bắt buộc phải đưa vấn đề liên quan đến luật pháp của Liên minh châu Âu lên Tòa án Công lý châu Âu để nhận tư vấn. Hệ thống các điều ước quốc tế của Liên minh châu Âu cho phép Tòa án Công lý châu Âu quyền hạn đối với toàn thể quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu.

Tòa án Công lý châu Âu đồng thời giữ vai trò trọng tài xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến các thể chế khác của Liên minh châu Âu và có nhiệm vụ giám sát quyền hạn hợp pháp của các thể chế này trong phạm vi đã quy định.

Tòa án Công lý châu Âu đang phát triển mạnh mẽ với số lượng không ngừng gia tăng của các vụ việc cũng như trên phương diện ngân sách. Năm 2008, Tòa án Công lý châu Âu đã thụ lý hơn 1300 vụ việc, một con số kỉ lục. Quỹ lương cho nhân viên cũng đạt tới mức cao nhất là €238 triệu vào năm 2009.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)